Pháp nhân thương mại – Chủ thể của pháp luật hình sự

pdf
Số trang Pháp nhân thương mại – Chủ thể của pháp luật hình sự 9 Cỡ tệp Pháp nhân thương mại – Chủ thể của pháp luật hình sự 269 KB Lượt tải Pháp nhân thương mại – Chủ thể của pháp luật hình sự 0 Lượt đọc Pháp nhân thương mại – Chủ thể của pháp luật hình sự 27
Đánh giá Pháp nhân thương mại – Chủ thể của pháp luật hình sự
5 ( 22 lượt)
Nhấn vào bên dưới để tải tài liệu
Để tải xuống xem đầy đủ hãy nhấn vào bên trên
Chủ đề liên quan

Nội dung

PHÁP NHÂN THƢƠNG MẠI – CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ThS. Đào Thu Hà, ThS. Nguyễn Minh Nhựt Khoa Luật, Nrường Đại học Công Nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH) TÓM TẮT Bài báo khoa học gồm 3 đề mục lớn : Tại đề mục “Lời nói đầu” chúng tôi nêu ra lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài. Đề mục thứ hai “Nội dung” chúng tôi đưa ra những cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn xoay quanh vấn đề “trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại”, kinh nghiệm từ pháp luật hình sự của một số quốc gia khác về chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân và quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành của Việt Nam về phạm vi áp dụng, căn cứ áp dụng và hình phạt đối với pháp nhân thương mại. Đề mục cuối: Chúng tôi đưa ra những khuyến nghị cho các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp nhằm hạn chế những rủi ro không mong muốn. Đề xuất các giải pháp trong quá trình thực thi pháp luật đối với một chế định hoàn toàn mới mẻ, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến pháp nhân thương mại phạm tội. Từ khóa: Pháp nhân thương mại, chủ thể hình sự, trách nhiệm hình sự. 1. LỜI NÓI ĐẦU Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không? Câu hỏi này đã được đặt ra từ thời La Mã cổ đại, đến nay, vấn đề này vẫn mang tính thời sự, dành được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Việc thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một xu hướng phát triển tất yếu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nền kinh tế thị trường, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam là những cơ hội và cả thách thức cho Việt Nam. Thực trạng hiện nay xuất hiện và tồn tại nhiều loại tội phạm mới, đa dạng, tinh vi hơn. Các loại tội phạm mới chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, thuế, công nghệ tin học,... Đã từ lâu, trách nhiệm pháp lý của pháp nhân đã được quy định trong các lĩnh vực dân sự, kinh tế, hành chính. Khoa học pháp lý hình sự Việt Nam đã trải qua một thời gian nghiên cứu, đúc kết từ lý luận, thực tiễn để có thể xây dựng, soạn thảo các quy định trong pháp luật hình sự về pháp nhân thương mại, Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 chính thức quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Điều này đặt ra cho các nhà đầu tư, cho các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự vào một môi trường pháp lý mới, nhiều thử thách mà trước đây chưa từng có. Chính vì lý do đó, tác giả lựa chọn chủ đề: “ Pháp nhân thương mại – Chủ thể của pháp luật hình sự” cho bài báo của mình, nêu ra một số vấn đề lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm trong quy định của một số nước trên thế giới về vấn đề này nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật đối với pháp nhân thương mại phạm tội. 100 2. NỘI DUNG 2.1. Cơ sở lý luận Khái niệm pháp nhân thương mại: Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông thì: “Pháp nhân là chủ thể pháp luật độc lập không phải là con người; phân biệt với thể nhân. Đủ tư cách pháp nhân để thành lập công ti”.1 Điều 84 BLDS 2005 quy định các điều kiện một tổ chức được công nhận là pháp nhân: “1. Được cơ quan có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. 2 Bộ luật dân sự năm 2005 đã liệt kê các loại pháp nhân. Điều 74, BLDS năm 2015 mô tả dấu hiệu về pháp nhân như sau: “1. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”.3 Lần đầu tiên, Bộ luật dân sự 2015 quy định về pháp nhân thương mai, tại Điều 75 như sau: “1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. 2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. 3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan”. 4 Quy định tại Điều 75 BLDS 2015, pháp nhân thương mại được hiểu là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác. Như vậy, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, … được pháp luật công nhận là các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoạt động vì mục đích lợi nhuận, được xem là pháp nhân thương mại. Pháp nhân thương mại, chủ thể chịu trách nhiệm hình sự Theo học thuyết pháp luật hình sự hiện đại, có rất nhiều học giả theo quan niệm này, ủng hộ việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Họ đưa ra những luận điểm sau: Thứ nhất: pháp nhân chỉ là những trừu tượng pháp lý đã không còn được chấp nhận, không còn phù hợp với thực tế tồn tại của các pháp nhân với tư cách là “đại diện cho các sức mạnh của thời đại” như Đại hội liên minh quốc tế về luật hình sự ở Bucaret nhận định”. 5 Các học thuyết pháp lý hiện đại và thực tiễn xét xử của tòa án nhiều quốc gia đã thoát ra khỏi quan niệm cổ điển để có thể nhận thức mới về vị trí, vai trò xã hội của pháp nhân. Pháp nhân không phải một trừu tượng pháp lý mà nó nắm giữ một đặc tính không đổi, sự tồn tại thực tế của pháp nhân được xác định trong sự phân biệt với các thành viên của nó. Thực tế, pháp nhân được pháp luật ghi nhận và thành lập theo khung pháp lý rõ ràng. Pháp nhân là một tổ chức, tập hợp của nhiều người, được pháp luật trao cho tư cách của một người (một thực thể nhân tạo) trong các quan hệ pháp luật. Tóm lại, pháp nhân không phải là một chủ thể giả tưởng 1 Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB TP. HCM, trg700. Điều 84 BLDS 2005 3 Điều 74 BLDS 2015. 4 Điều 75 BLDS 2015. 5 Đại học quốc gia Hà Nội ( 2011), “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự”, trg 229. 2 101 mà là “một thực thể xã hội độc lập”, có ý chí, có mong muốn, được xử sự tự do và hưởng các quyền theo quy định pháp luật để theo đuổi những mục tiêu đặt ra trong văn bản sáng lập ra tổ chức đó, vì vậy, có thể thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hình sự và có đủ khả năng để chịu trách nhiệm hình sự. Thứ hai, những người theo quan điểm cổ điển cho rằng pháp nhân về bản chất vẫn là thực thể vô hình nên không thể áp dụng hình phạt với nó. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự phát triển khoa học về hình phạt cũng có những bước tiến mạnh mẽ, nên quan điểm trên không còn đủ sức thuyết phục. Dù tử hình, hoặc các hình phạt hạn chế, tước quyền tự do thân thể không thể áp dụng đối với pháp nhân, nhưng các loại hình phạt khác dần được hình thành và phát triển tương thích hoàn toàn với bản chất của các tổ chức, của pháp nhân thương mại. Buộc pháp nhân thương mại phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, phải trả giá cho những hành vi gây ra những nguy hại đáng kể cho xã hội theo quy định của pháp luật hình sự. Pháp nhân có các quyền và có tài sản độc lập, do đó, hình phạt đối với pháp nhân sẽ chủ yếu xoay quanh việc tước, hạn chế quyền hoặc tài sản. Kinh nghiệm quốc tế đã chỉ ra rằng trong khoa học về hình phạt, vẫn đủ mềm dẻo, linh hoạt cho việc trừng phạt các thực thể do pháp luật tạo ra về đời sống của nó, chẳng hạn như: giải thể; đóng cửa, cấm hoạt động trong một thời hạn nhất định; cấm tiến hành một số hoạt động; phạt tiền; tịch thu tài sản;…. 1.2. Cơ sở thực tiễn Sau những năm thực hiện công cuộc đối mới, bộ mặt xã hội Việt Nam thực sự đã có sự thay da đổi thịt, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với các chính sách mở cửa, thông thoáng, hội nhập kinh tế tri thức quốc tế, thúc đẩy đầu tư cả trong và ngoài nước. Việt Nam chúng ta đã tạo ra những điều kiện tốt để phát triển kinh tế. Theo số liệu thống kê, số doanh nghiệp trong cả nước năm 2009 là 248.847, trong đó doanh nghiệp nhà nước là 3.369; doanh nghiệp tư nhân là 238.932; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 6.546. nhất.6 Tuy nhiên, hiện nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường đã có không ít các pháp nhân thương mại vì chạy theo lợi nhuận, những toan tính cục bộ đã có sự thông đồng từ người quản lý đến nhân viên, thực hiện nhiều hành vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế như trốn thuế, kinh doanh trái phép, buôn lậu, ngân hàng, trốn đóng bảo hiểm cho người lao động, vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh, môi trường,... Núp bóng dưới danh nghĩa pháp nhân để thực hiện hành vi phạm tội ngày càng tinh vi, tính chất nguy hiểm ngày càng gia tăng. Các hành vi vi phạm pháp luật do pháp nhân thương mại thực hiện trong thời gian gần đây đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế - xã hội và cho đời sống của người dân, ảnh hưởng lớn đến sự ổn định kinh tế chính trị của đất nước. Tất cả những điều đó, đòi hỏi cần phải có những biện pháp mạnh để phòng ngừa và đấu tranh. Cụ thể có thể nhắc đến vụ việc Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh – FHS có hành vi hủy hoại môi trường biển Việt Nam bằng việc xả chất thải có chứa độc tố làm hải sản và sinh vật biển chết hàng loạt, gây bất bình trong nhân dân và dư luận thế giới cũng quan tâm; hoặc những vụ đại án Vinasin; các đại án ngân hàng;.... 1.3. Kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới về trách hiệm hình sự của pháp nhân  Cộng hòa Pháp – Phạm vi áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân: Bộ luật hình sự Pháp quy định phạm vi trừng trị đối với tất cả các pháp nhân, trừ Nhà nước và một vài ngoại lệ liên quan tới các pháp nhân theo luật công.7 Theo đó, Bộ luật hình sự năm 1994 của Cộng hòa Pháp quy định phạm vi áp dụng đối với pháp 6 7 Xem http://w.w.w.gro.gov.vn. Đsd, trang 70. 102 nhân: theo luật công, trừ một số ngoại lệ ( Đ 121 – 2); theo luật tư ( Đ 121 – 2); pháp nhân nước ngoài. Quốc tịch của pháp nhân nước ngoài được xác định trên cơ sở của Luật dân sự và Luật thương mại. – Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm cụ thể: a. Các tội xâm phạm tới con người: trong quyển II Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với 32/88 tội danh khác nhau như: tội chống loài người; tội buôn bán ma túy và tẩy rửa tiền; tội xâm phạm bí mật đời tư;... b. Các tội xâm phạm tài sản: quy định tại quyển III Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp, trách nhiệm hình sự của pháp nhân được áp dụng đối với tuyệt đại đa số các tội xâm phạm tài sản, 19/22 tội danh khác nhau như: tội chiếm đoạt vật chứng; tội tổ chức gian lận liên quan đến phá sản; tội xâm phạm hệ thống thông tin;... c. Các tội phạm khác theo quy định tại Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp. – Điều kiện áp dụng: 1. Tội phạm được thực hiện bởi các cơ quan hoặc những người đại diện của pháp nhân; 2. Tội phạm được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân; 3. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội phạm hoàn thành hoặc chưa hoàn thành; 4. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân là chính phạm hoặc tòng phạm; – Nguyên tắc tổng hợp hình phạt. Hình phạt gồm: phạt tiền; giải thể; cấm tiến hành trực tiếp hoặc gián tiếp một hoặc nhiều hoạt động nghề nghiệp ... trong thời hạn tối đa đến 5 năm hoặc vĩnh viễn; cấm huy động vốn; cấm phát hành sec ...; niêm yết bản án trên các phương tiện nghe nhìn.  Vƣơng quốc Bỉ – Phạm vi áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân: Bộ luật hình sự Vương quốc Bỉ quy định tại Điều 5 bao gồm các pháp nhân theo luật công, trừ một số trường hợp ngoại lệ; các pháp nhân theo luật tư có mục đích sinh lợi. – Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm cụ thể: trong lĩnh vực thuế; môi trường; lao động; thương mại hoặc các lĩnh vực khác. – Điều kiện áp dụng, Điều 5 Bộ luật hình sự Vương quốc Bỉ quy định: 1. Khi tội phạm cụ thể được thực hiện về thực chất gắn liền với việc thực hiện mục đích của pháp nhân; 2. Hoặc tội phạm cụ thể được thực hiện về thực chất gắn với việc bảo vệ các lợi ích của pháp nhân; 3. Hoặc tội phạm được thực hiện về thực chất là vì lợi ích của pháp nhân. – Nguyên tắc tổng hợp hình phạt, hình phạt trong luật hình sự của Vương quốc Bỉ gồm: Phạt tiền; Tịch thu tài sản; Giải thể; Cấm tiến hành những hoạt động nhất định; Đóng cửa một hoặc nhiều cơ sở của pháp nhân; Niêm yết bản án, quyết định trên phương tiện nghe nhìn.  Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa – Phạm vi áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, tại tiết 4 chương III Phần chung Bộ luật hình sự Trung Quốc năm 1997 nêu: “Tội phạm có chủ thể là các cơ quan, đơn vị và tổ chức”, như vậy, pháp luật hình sự Trung Quốc không dùng thuật ngữ pháp nhân như các nước khác thường sử dụng. 103 Tại Điều 30 của Bộ luật này, xác định các cơ quan, đơn vị, tổ chức gồm: các công ty, xí nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cơ quan, đoàn thể đã thực hiện tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự. Theo đó, chủ thể là tổ chức chịu trách nhiệm hình sự Trung Quốc là rất rộng. – Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm cụ thể, Bộ luật hình sự Trung Quốc rất cụ thể từ Điều 140 đến Điều 231 của Chương III về các tội xâm phạm trật tự kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, như là: nhóm tội sản xuất, tiêu thụ hàng giả và hàng kém chất lượng; nhóm tội buôn lậu; tội gian lận tài chính; tội rửa tiền; tội gian lận bảo hiểm; tội phạm liên quan thuế; các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ; tội cưỡng bức lao động; tội gây ô nhiễm môi trường;... – Điều kiện áp dụng, theo pháp luật Trung Quốc, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân cần hội đủ hai điều kiện sau: Thứ nhất: Tội phạm cần phải được thực hiện bởi cơ quan hoặc người lãnh đạo của pháp nhân; Thứ hai: Tội phạm được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân. – Nguyên tắc tổng hợp hình phạt: Bộ luật hình sự của Trung Quốc cũng như pháp luật hình sự của Thụy Sĩ chỉ quy định phạt tiền là hình phạt duy nhất đối với pháp nhân phạm tội. 1.4. Pháp nhân thƣơng mại trong pháp luật hình sự Việt Nam Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/1/2018 có rất nhiều nội dung mới mà luật hình sự trước đó không quy định. Một điểm mới quan trọng về pháp nhân thương mại là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự, quy định này đã làm thay đổi cơ bản chính sách hình sự cổ điển. Như vậy, bên cạnh nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, luật hình sự Việt Nam đã đặt ra trách nhiệm hình sự đối với thực thể nhân tạo do pháp luật tạo ra, đó chính là pháp nhân thương mại, chủ thể này phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội. Thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về xử lý, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời đại mới. Phạm vi áp dụng trách nhiệm hình sự, pháp nhân thƣơng mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm sau đây: Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ); Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã); 2. Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản); Điều 243 (tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy 104 cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại). Điều kiện áp dụng theo Điều 75 BLHS 2015, sửa đổi 2017 thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại, vì lợi ích của pháp nhân thương mại, có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp nhận của pháp nhân thương mại và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Như vậy, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn bốn điều kiện: 1. Hành vi phạm tội được thực hiện phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại là hành vi của một người hoặc một số người đang là biên chế của tổ chức kinh tế mà theo pháp luật thì tổ chức kinh tế này là pháp nhân thương mại. Nếu họ không phải trong tổ chức kinh tế được công nhận là pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội của họ không phải là hành vi của pháp nhân thương mại. 2. Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại: Khi một người hoặc một số người thực hiện hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại giao hoặc uỷ quyền đều vì lợi ích của pháp nhân thương mại chứ không vì lợi ích cá nhân của họ. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội họ lại lợi dụng pháp nhân thương mại để thực hiện thêm hành vi vì lợi ích cá nhân thì chỉ hành vi nào vì lợi ích của pháp nhân thương mại mới buộc pháp nhân thương mại phải chịu, còn hành vi nào vượt ra ngoài lợi ích của pháp nhân thương mại mà vì lợi ích cá nhân họ thì họ phải chịu. Có thể nói, đây là một dạng hành vi “vượt quá của người thực hành” trong vụ án mà pháp nhân thương mại phạm tội. Ví dụ: Công ty TNHH một thành viên X giao cho Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn B vận chuyển một số thiết bị y tế là hàng cấm mà Công ty mua được của một Công ty Y. Trong quá trình nhận và vận chuyển số hàng cấm trên, A và B đã bàn với nhau “nhân tiện” vận chuyển một số thuốc lá ngoại để tiêu thụ. Trên đường vận chuyển thì bị Công an bắt giữ. Khi bị bắt, để trốn tránh trách nhiệm A và B khai tất cả hàng trên xe là của Công ty X. Sau khi điều tra, xác minh thì số thuốc lá ngoại mà A và B vận chuyển không phải của Công ty X, mà của cá nhân A và B. Do đó, Cơ quan điều tra chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Công ty X về hành vi vận chuyển hàng cấm là các thiệt bị y tế.8 Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại, Hành vi phạm tội của một hoặc một số người phải có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Sự chỉ đạo điều hành là sự chỉ đạo của những người đứng đầu hoặc của một tập thể pháp nhân thương mại như: Giám đốc, Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc của công ty. Sự chỉ đạo, điều hành này cũng tương tự như trường hợp phạm tội có tổ chức mà người tổ chức là người chỉ đạo điều hành mọi hành vi của tất cả các đồng phạm khác. Ngoài sự chỉ đạo, điều hành của những người nhân danh pháp nhân thương mại còn có trường hợp tuy không có sự chỉ đạo, điều hành nhưng lại có sự chấp thuận của những người đứng đầu pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội cũng là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại. Ví dụ: Một số Công nhân của Công ty A có nhiệm vụ kiểm tra các van xả nước thải theo quy trình xả thải đã được thiết kế và được cơ quan chức năng chấp nhận. Tuy nhiên, khi kiểm tra các van xả thải thấy có nhiều van đã hỏng, một số đường ống đã vỡ làm cho nước thải chảy ra sông. Các công nhân này đã gọi điện về báo cáo Giám đốc tình hình xả thải như trên và đề nghị tiếp tục cho xả thải ra môi trường. Khi được báo cáo, Giám đốc công ty đã đồng ý với biện pháp của các công nhân, mà không có biện pháp khắc phục trong một thời gian dài gây ô nhiễm nguồn nước làm cho các sinh vật sống ở sông chết hàng loạt. 8 Đinh văn Quế (2017), “Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015”, NXB Thông tin và truyền thông, trg 45; 403. 105 Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Dù là người phạm tội hay pháp nhân thương mại phạm tội thì bao giờ BLHS sự cũng quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS năm 2015 tuỳ thuộc vào tội phạm mà pháp nhân thương mại thực hiện: 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc xác định thế nào là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại khoản 2 Điều 9 BLHS năm 2015. Điều luật này đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015. Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. – Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội: 1. Hình phạt chính bao gồm: a. Phạt tiền: + Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội. + Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng. b. Đình chỉ hoạt động có thời hạn: + Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế. + Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm. c. Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn: + Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra. 2. Hình phạt bổ sung bao gồm: a. Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; + Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội. + Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động. + Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 106 b. Cấm huy động vốn; + Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội. + Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm: - Cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư; - Cấm phát hành, chào bán chứng khoán; - Cấm huy động vốn khách hàng; - Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; - Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản. + Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn. + Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. c. Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính. + Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung. + Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2017/ NĐ – CP quy định về trình tự, thủ tục và mức tiền mà pháp nhân thương mại bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử phải nộp để đảm bảo thi hành án. Là một văn bản dưới luật hết sức cần thiết cho việc áp dụng pháp luật đối với pháp nhân thương mại phạm tội. 2. GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƢƠNG MẠI PHẠM TỘI 2.1.Một số ý kiến đối với doang nghiệp Các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp và cả những người quản lý khác bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị liên lụy đến các vụ án hình sự đều có một điểm chung là không nắm rõ các quy định về pháp luật hình sự cùng với các quy định pháp luật khác để tự điều chỉnh. Từ việc không nắm rõ này, họ vướng phải những rủi ro không đáng có trong quá trình hoạt động của cá nhân và doanh nghiệp. Lời khuyên cho các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp và cả những người quản lý khác cần tự mình, có sự hỗ trợ của đội ngũ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp nhận diện đầy đủ các quy định trong pháp luật hình sự mới để kiểm soát, phòng, tránh tốt nhất những rủi ro có thể xảy ra cho công ty và cho chính mình. Mối quan hệ giữa pháp nhân và người đại diện của pháp nhân là mối quan hệ mật thiết, gắn bó không thể tách rời, vì năng lực hành vi của pháp nhân được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện pháp nhân. Do đó, trong mối quan hệ này, người đại diện cần tuân thủ tuyệt đối các quy định trong Luật doanh nghiệp, Luật thương mại, Luật lao động, Luật cạnh tranh,... cần xác định rõ giới hạn phạm vi những điều được làm và không được làm. Trong trường hợp vượt quá giới hạn cho phép thì cá nhân người đại diện có thể trở thành tội phạm, là đồng phạm đối với hành vi phạm tội của pháp nhân. 2.2. Một số giải pháp đối với cơ quan áp dụng pháp luật Chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một quy định hoàn toàn mới, chưa từng có tiền lệ nên chắc chắn trong quy định của pháp luật, cũng như trong việc thực thi pháp luật trên thực tế sẽ không thể 107 tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế và vướng mắc nhất định. Ví dụ như trong trường hợp pháp nhân bị đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn thì quyền lợi của người lao động, của chủ nợ, các đối tác đang có hợp đồng hợp tác, kinh doanh với pháp nhân này sẽ được giải quyết như thế nào? Những vấn đề này Bộ luật hình sự năm 2015 chưa hề dự liệu đến. Điều này sẽ tạo ra khó khăn không nhỏ khi thực hiện pháp luật trên thực tế. Do đó, chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hơn nữa để có những văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự mới, có những bước tiến hành thận trọng, phù hợp, tránh những hậu quả tiêu cực có thể phát sinh./. TÀI LIỆU THAM KHẢO: [1] Bộ Luật Dân sự năm 2015. [2] Bộ Luật Hình sự năm 2015, sđ 2017. [3] Luật Doanh nghiệp năm 2014. [4] Đại học quốc gia Hà Nội ( 2011), “ Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự”, NXB Chính trị quốc gia. [5] Đinh Văn Quế (2017), “Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015”, NXB Thông tin và truyền thông. [6] http://enternews.vn/phap-nhan-thuong-mai-pham-toi-ky-i-can-hieu-ra-sao-ve-phap-nhan-thuongmai-pham-toi-122999.html [7] ttps://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/04/02/php-nhn-thuong-mai-trong-php-luat-viet-nam-vmot-so-khuyen-nghi/ [8] ttps://luatduonggia.vn/quy-dinh-ve-hinh-phat-doi-voi-phap-nhan-thuong-mai/ 108
This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.