Phân tích tài chính công ty cổ phần đường Biên Hòa

pdf
Số trang Phân tích tài chính công ty cổ phần đường Biên Hòa 21 Cỡ tệp Phân tích tài chính công ty cổ phần đường Biên Hòa 1 MB Lượt tải Phân tích tài chính công ty cổ phần đường Biên Hòa 0 Lượt đọc Phân tích tài chính công ty cổ phần đường Biên Hòa 5
Đánh giá Phân tích tài chính công ty cổ phần đường Biên Hòa
4 ( 13 lượt)
Nhấn vào bên dưới để tải tài liệu
Đang xem trước 10 trên tổng 21 trang, để tải xuống xem đầy đủ hãy nhấn vào bên trên
Chủ đề liên quan

Nội dung

Phân tích tài chính công ty cổ phần đường Biên Hòa Họ & tên: Nguyễn Thị Ngọc Thùy Võ Thị Hồng Hương Lớp: 35K7_PVD Giới thiệu sơ lược về công ty cổ phần đường Biên Hòa Vị thế Công ty   Đường Biên Hòa có hệ thống phân phối sản phẩm trải đều trên cả nước, bao gồm hơn 100 đơn vị sản xuất sử dụng đường làm nguyên liệu đầu vào và trên 130 nhà phân phối, đại lý, siêu thị trực tiếp bán sỉ, bán lẻ trên thị trường tiêu dùng. Thị trường xuất khẩu của Công ty là một số nước trong khối ASEAN, Trung Quốc và Iraq. Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa là đơn vị duy nhất có nhà máy luyện đường chuyên biệt, có khả năng sản xuất đường luyện quanh năm, không phụ thuộc nhiều vào mùa vụ với chất lượng cao.Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa có lợi thế là đơn vị duy nhất cung ứng sản phẩm đường phong phú, đa dạng mà các đơn vị khác chưa cạnh tranh được như sản phẩm đường có bổ sung vitamin A “ SugarA" Chiến lược Phát triển và Đầu tư     Phát triển ổn định vùng nguyên liệu mía: Mía - Đường vẫn là ngành cốt lõi trong hoạt động của Công ty trong những năm tới đây. Giữ vững vị trí dẫn đầu về uy tín sản phẩm và chất lượng đường tinh luyện. Đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh. Đầu tư bổ sung vào hệ thống thiết bị sản xuất đường tại hai Nhà máy Đường Biên Hòa Tây Ninh, Biên Hòa - Trị An và đường luyện tại Công ty để cải thiện thêm hiệu suất thu hồi, giảm giá thành, tăng cường lượng đường thương phẩm bán thẳng ra thị trường từ hai Nhà máy kể từ năm 2010. Các dự án lớn    Dự án Cụm chế biến Công nghiệp phía tây sông Vàm Cỏ Đông: Tổ chức thực hiện đầu tư các hạng mục hạ tầng cơ sở theo đúng tiến độ. Kết hợp với địa phương thực hiện Dự án đưa nước sông Vàm Cỏ Đông qua rạch Bàu Lầy tưới cho mía Nông trại Thành Long và vùng phụ cận tương ứng tổng diện tích 2.500 ha nhằm tăng năng suất và chất lượng mía. Xúc tiến việc nghiên cứu chuẩn bị khái thác quỹ đất và cơ sở hạ tầng sau khi di dời Nhà máy từ thị xã Tây Ninh qua Cụm chế biến công nghiệp phía Tây sông Vàm Cỏ Đông cùng số diện tích đất thuộc quyền sử dụng của Công ty. Triển vọng Công ty    Giá dầu đang ở mức thấp kéo theo giá nguyên vật liệu giảm tạo nên mặt bằng giá mới thuận lợi cho sản xuất kinh doanh trong nước. Thương hiệu sản phẩm đường tinh luyện Biên Hòa vẫn được người tiêu dùng tín nhiệm, năm 2008 là năm thứ 12 liên tiếp được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao. Giá các loại cây trồng cạnh tranh gay gắt với cây mía trước đây đang giảm mạnh là cơ hội tốt cho việc phục hồi nhanh vùng mía tại khu vực Đông Nam Bộ nói chung và Đồng Nai, Tây Ninh nói riêng. Rủi ro Kinh doanh chính    Năm 2009 dự báo sẽ còn nhiều khó khăn do suy thoái kinh tế tiếp tục lan rộng, sức mua bị hạn chế, trong đó có Việt Nam. Thị trường xuất khẩu đường có thể bị thu hẹp do mức độ hạn chế, thắt chặt chi tiêu của các nước nhập khẩu. Hoạt động sản xuất, huy động nguyên liệu tại Nhà máy Đường Biên Hòa - Trị An còn phải vượt qua nhiều khó khăn trở ngại, đặc biệt là nguồn nguyên liệu mía do “dư âm” của Công ty Mía Đường Trị An (đơn vị cũ) để lại cần sớm được khắc phục để đạt hiệu quả trong thời gian tới. 1. Lịch sử hình thành Công ty cổ phần đường Biên Hòa được xây dựng từ năm 1969 với tiền thân là Nhà máy đường 400 tấn, sản phẩm chính lúc bấy giờ là đường ngà, rượu mùi, bao đay. - Đến năm 1971 – 1972, đầu tư Nhà máy đường tinh luyện. - Năm 1994, nhà máy đường Biên Hòa đổi tên thành Công ty đường Biên Hòa. - Năm 1995, để mở rộng sản xuất Công ty đường Biên Hòa tiến hành đầu tư mở rộng công suất đường luyện tại Biên Hòa từ 200 tấn/ngày lên 300 tấn/ngày và khởi công xây dựng nhà máy đường Tây Ninh (hiện nay là nhà máy Đường Biên Hòa – Tây Ninh). Sau hơn 2 năm thiết kế, thi công và lắp đặt, Nhà máy đường Tây Ninh đã chính thức đi vào hoạt động ngày 26/03/1998 với công suất chế biến là 2.500 tấn mía/ngày, đến năm 2001 đã đầu tư nâng công suất chế biến lên 3.500 tấn mía/ngày. - Ngày 27/03/2001, theo Quyết định số 44/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước Công ty đường Biên Hòa thành công ty cổ phần, quá trình cổ phần hóa Công ty đã diễn ra và được Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vào ngày 16/05/2001. Công ty cổ phần đường Biên Hòa ra đời. - Ngày 30/08/2006, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký phát hành số 51/UBCK-ĐKPH. Công ty đã phát hành bổ sung cổ phần để huy động vốn, vốn điều lệ của Công ty tăng từ 81.000.000.000 đồng lên 162.000.000.000 đồng. BHS vẫn trung thành với ngành kinh doanh truyền thống của mình là sản xuất đường, rượu và các sản phẩm sau đường bằng việc đầu tư vào các dự án như: Dự án đốt lò hơi đốt than công nghệ thế hệ mới; xây dựng cụm chế biến công nghiệp phía Tây sông Vàm Cỏ Đông-Tây Ninh… để hạ giá thành sản phẩm, chủ động nguồn nguyên liệu đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất. Chiến luộc phát triển của công ty vẫn hướng đến tính bền vững theo chiều sâu nhiều hơn là kinh doanh dàn trải qua các lĩnh vực khác. Sở dĩ vẫn tiếp tục phát triển theo chiều sâu là do tiềm năn phát triển ngành trên thị trường đang còn, công ty đang có những lợi thế hơn so với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực. 2. Định hướng phát triển Hiện nay, để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, các Công ty đều phải tìm biện pháp tăng sản lượng sản xuất và tiêu thụ, hạ giá thành sản phẩm. Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa đang khẩn trương hoàn thiện các dự án:  Đưa lò hơi đốt than công nghệ thế hệ mới với công suất 30 tấn hơi/giờ vào hoạt động, nhằm mục đích hạ giá thành sản phẩm.  Xây dựng và phát triển cụm chế biến công nghiệp phía tây sông Vàm cỏ đông, chủ động nguyên liệu đáp ứng đủ nhu cầu cho hoạt động sản xuất với mục tiêu cung ứng ra thị trường 100.000 tấn đường tinh luyện hàng năm. Định hướng phát triển của Công ty phù hợp với các chính sách của Nhà nước và xu hướng phát triển chung của ngành đường thế giới. 3. Sơ đồ tổ chức bộ máy Hội đồng quản trị của công ty bao gồm 10 người. Đứng đầu là chủ tịch hội đồng quản trị: ông Thái Văn Trượng, tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành kinh tế, với nhiều năm kinh nghiệm thực tế, đảm nhiệm chủ tịch hội đồng quản trị nhiệm kỳ III (2007-2011), là người có năng lực và giàu kinh nghiệm. Vì vậy, chắc chắn công ty sẽ phát triển tốt hơn nữa trong tương lai. Ngoài ra, các thành viên trong hội đồng quản trị của công ty đều là những người có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh sản xuất, đều tốt nghiệp cử nhân kinh tế, các trường đại học khác như bách khoa, công nghiệp. Họ đều có kinh nghiệm và kiến thức cần thiết cho quá trình phát triển của công ty. Ngoài ra, công ty còn có: ban giám đốc, kế toán trưởng và ban kiểm soát công ty, đảm bảo một bộ máy hoạt động minh bạch và hiệu quả cao. 4. Vốn điều lệ Vốn điều lệ của Công ty cổ phần đường Biên Hòa là 185.316.200.000 VND. 5. Hệ thống phân phối Với hệ thống hơn 200 đại lý trải dài từ Bắc đến Nam và 4 chi nhánh tại: thủ đô Hà Nội, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ, các sản phẩm của Công ty đã được đông đảo người tiêu dung trong cả nước biết đến và tin dùng. 6. Vị thế công ty trong ngành Công ty đường Biên Hòa đã được thành lập 41 năm, có thể nói là một trong những công ty đường được thành lập sớm nhất ở Việt Nam. Vì vậy, sản phẩm đường Biên Hòa trở thành một thương hiệu quen thuộc đối với người dân Việt Nam và các doanh nghiệp trong nước. Cùng với cơ cấu sản phẩm đa dạng và hơn 200 đai lý trải dài từ Bắc xuống Nam, thị phần công ty chiếm một vị trí không nhỏ trong ngành sản xuất đường cả nước. Phân tích tình hình tài chính của công ty I. Phân tích dòng tiền 1. Phân tích dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Hình 1: Biểu đồ thể hiện dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của BHS diễn biến tăng giảm qua các thời kỳ (trong đó có năm 2007 – 2009)  Năm 2007: Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh âm. Lý do một phần là do giá đường bán ra giảm làm cho doanh thu bị sụt giảm, bên cạnh đó, các khoản chi trả cho chi phí từ hoạt đọng sản xuất kinh doanh cao hơn so với dòng tiền thu vào. Mặc dù trong năm nay, các khoản chi trả cho thuế và lãi vay có giảm nhiều so với năm các năm trước nhưng vẫn không bù đắp được cho khoản chi ra.  Năm 2008: do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, chi phí tài chính của công ty tăng đột biến. Giá chứng khoán liên tục giảm nên BHS đã trích lập dự phòng cho tổn thất đầu tư chứng khoán lên tới 44 tỷ đồng và cũng trong năm này, lãi suất tăng từ 0,81%/tháng lên đến 1.75%/tháng làm cho chi phí lãy vay của BHS tăng hơn 100% so với năm 2007. Doanh thu năm 2008 có tăng lên nhưng vẫn không bù đắp được các khoản chi phí tài chính khá lớn này nên BHS bị lỗ cả năm. Tuy nhiên, dòng tiền thuần năm 2008 vẫn dương là do khoản dự phòng giảm giá chứng khoán chỉ mới được thành lập, công ty chưa bán các chứng khoán này nên khoản lỗ này chưa được tính là khoản tiền chi ra, ngoài ra còn là do công ty thu tiền từ bán hàng năm 2007.  Năm 2009: Hình 1 thể hiện dòng tiền thuần trong 3 quý đầu năm cho thấy, khi khủng hoảng tài chính dần dần lắng xuống, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của BHS thật sự có chuyển biến tốt. Đây là điều đáng mừng cho BHS cũng như các nhà đầu tư vào công ty. Cho đến quý 3 năm 2009, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty đã tăng lên đáng kể so với năm 2009. Đây là kế quả từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoàn nhập dự phòng của khoản đầu tư tài chính.  So sánh thu nhập ròng sau thuế và dòng tiền thuần từ hoạt đọng sản xuất kinh doanh Rõ ràng dòng tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh thường luôn cao hơn thu nhập ròng của công ty (ngoại trừ năm 2007), điều này phát ra một tín hiệu tốt cho các nhà đầu tư vào công ty, vì nó cho thấy rằng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thường sản sinh ra một lượng tiền mặt thặng dư khá cao, đủ để giúp công ty chi tiêu cho các hoạt động khác. Tỷ trọng các dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh Dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh bao gồm :  Tiền bán hàng, cung cấp dịch vụ, kinh doanh khác  Tiền thu từ các hoạt động kinh doanh khác Từ năm 2007 – 2009, tiền bán hàng, cung cấp dịch vụ và kinh doanh khác dần dần bị thay thế bởi tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh. Rõ ràng, dòng tiền từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, kinh doanh khác (hoạt động chính của công ty) lại chiếm tỷ trọng ngày càng thấp trong dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh của công ty. Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, vì thế tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh cũng khá lớn qua các năm. Năm 2008, số tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh lên tới 1,824 tỷ đồng. Điều này cũng dễ hiểu vì năm này số tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh chiếm 69,16% dòng tiền vào (tương đương 1,828 tỷ đồng). Năm 2009, khoản mục này có tăng như không đáng kể. 2. Phân tích dòng tiền từ hoạt động đầu tư Dòng tiền từ hoạt động đầu tư biến đổi qua các năm. Năm 2007 và năm 2008: Dòng tiền thuần từ hoạt động đầu tư dương. Điều này không có nghĩa là công ty không có các dự án đầu tư, mà tác động của dòng tiền dương là do tiền thu vào từ thu hồi vốn cho vay, bán các công cụ nợ, thu lãi vay và được chia cổ tức… Công ty vẫn có các dự án đầu tư như năm 2007. Ngoài ra, công ty còn đầu tư rất nhiều vào xây dựng cơ bản.  Công ty đã tham gia đấu giá và mua lại thành công Công ty Mía đường Trị An với mức giá là 53.9 tỷ đồng.  Triển khai Dự án Cụm chế biến công nghiệp phía Tây sông Vàm Cỏ Đông: đền bù giải phóng mặt bằng cho dự án cụm chế biến công nghiệp phía Tây sông Vàm Cỏ Đông thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh. Năm 2009: dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh đầu tư lại âm. Một trong những lý do chủ yếu đó là năm 2009 thị trường tài chính dần dần phục hồi bình ổn nên công ty đã đầu tư một nguồn vốn khá lớn vào các công cụ tài chính. Bên cạnh đó, dòng thu từ các công cụ tài chính cũng giảm đáng kể so với năm 2008 (4.751.325.822 VND so với 53.961.073.387 VND) làm cho dòng tiền âm. Hình 2: Dòng tiền thuần từ hoạt động đầu tư 3. Phân tích dòng tiền thô Dòng tiền thô = Thu nhập ròng + khấu hao Hình 3: biểu đồ thể hiện dòng tiền thuần qua các năm Từ năm 2007 – 2009, dòng tiền thô biến đổi mạnh. Đặc biệt, năm 2008, dòng tiền thô giảm đáng kể và bị âm. Trong năm này, tình hình khủng hoảng đang diễn ra khá phức tạp nên chi phí hoạt đọng sản xuất tăng cao và vì hoạt động đầu tư cổ phiếu của công ty bị thua lỗ nên đã làm cho doanh thu ròng sau thuế của công ty bị lỗ nặng nề. Sang năm 2009, dòng tiền thô được phục hồi và tăng trưởng rất nhanh => chứng tỏ hoạt động kinh doanh đã được phục hồi và tạo ra lợi nhuận cho công ty.
This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.