Giáo trình Giải phẫu – sinh lý - Nghề: Dược (Trình độ Cao đẳng): Phần 1

pdf
Số trang Giáo trình Giải phẫu – sinh lý - Nghề: Dược (Trình độ Cao đẳng): Phần 1 127 Cỡ tệp Giáo trình Giải phẫu – sinh lý - Nghề: Dược (Trình độ Cao đẳng): Phần 1 838 KB Lượt tải Giáo trình Giải phẫu – sinh lý - Nghề: Dược (Trình độ Cao đẳng): Phần 1 45 Lượt đọc Giáo trình Giải phẫu – sinh lý - Nghề: Dược (Trình độ Cao đẳng): Phần 1 605
Đánh giá Giáo trình Giải phẫu – sinh lý - Nghề: Dược (Trình độ Cao đẳng): Phần 1
4.1 ( 14 lượt)
Nhấn vào bên dưới để tải tài liệu
Đang xem trước 10 trên tổng 127 trang, để tải xuống xem đầy đủ hãy nhấn vào bên trên
Chủ đề liên quan

Tài liệu tương tự

Nội dung

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG CĐ KỸ NGHỆ II GIÁO TRÌNH GIẢI PHẪU – SINH LÝ NGHỀ: DƯỢC TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG (Ban hành theo quyết định số / /QĐ-CĐKNII ngày tháng năm trưởng Trường Cao Đẳng Kỹ Nghệ II) của Hiệu (LƯU HÀNH NỘI BỘ) 2 Lời nói đầu Kỹ thuật dược là nghề mới được Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho phép đưa vào giảng dạy trong hệ thống trường nghề trong vài năm gần đây. Nghề này có đặc thù liên quan mật thiết mã ngành Sức khoẻ, đòi hỏi người học phải có đủ kiến thức chuyên ngành Dược, một phần kiến thức ngành Y và kỹ năng sử dụng trang thiết bị trong bào chế, bảo quản thuốc dùng cho chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Khoa Dược là một trong những khoa mới được thành lập trong hệ thống trường Cao đẳng Nghề Kỹ thuật Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình giảng dạy nghề kỹ thuật dược theo Chương trình khung được Bộ ban hành, khoa đã chủ động biên soạn bộ giáo trình đáp ứng việc đào tạo nghề dược trình độ cao đẳng nghề, tạo nguồn cung lao động kỹ thuật ngành dược cho nhu cầu xã hội hiện nay. Giáo trình GIẢI PHẨU SINH LÝ được biên soạn phù hợp nội dung chương trình đào tạo nghề kỹ thuật dược trình độ cao đẳng. Giáo trình GIẢI PHẨU SINH LÝ cung cấp kiến thức cơ sở y dược tạo nền tảng cho người học tiếp thu tốt hơn và hiểu rõ hơn tác dụng của thuốc trên cơ thể người nhằm nâng cao chất lượng phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng. Giáo trình GIẢI PHẨU SINH LÝ thật sự còn nhiều khiếm khuyết, khoa Dược trên tinh thần cầu thị mong có nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, người học nhằm hoàn thiện hơn nội dung và cập nhật kiến thức chuyên ngành đáp ứng nhu cầu người học và sinh viên các chuyên ngành liên quan. Phụ trách khoa Dược 3 CHƯƠNG 1: ĐAI CƯƠNG GIẢI PHẨU HỌC GIỚI THIỆU MÔN GIẢI PHẪU HỌC NGƯỜI Mục tiêu học tập: Nêu được ý nghĩa giải phẫu học và các phương thức miêu tả giải phẫu. Trình bầy được vị trí và tầm quan trọng của môn giải phẫu học trong y học. Nêu được các quy ước chung về tư thế, mặt phẳng giaỉ phẫu. Nội dung: 1. Giải phẫu học và các phân môn của giải phẫu học Giải phẫu học người (human anatomy) là nghành khoa học nghiên cứu cấu trúc cơ thể người. Tùy thuộc vào phương tiện quan sát, giải phẫu học được chia thành hai phân môn: giải phẫu đại thể (gross anatomy hay macroscopic anatomy) nghiên cứu các cấu trúc có thể quan sát bằng mắt thường và giải phẫu vi thể (microscopic anatomy hayhistology) nghiên cứu các cấu trúc nhỏ chỉ có thể nhìn thấy qua kính hiển vi. 2. Các phương thức mô tả giải phẫu Tùy theo mục đích nghiên cứu, có nhiều cách mô tả khác nhau. Ba cách tiếp cận chính trong nghiên cứu giải phẫu là giải phẫu hệ thống, giải phẫu vùng và giải phẫu bề mặt. Giải phẫu hệ thống (systemic anatomy) là cách mô tả mà ở đó cấu trúc của từng hệ cơ quan (thực hiện một chức năng nào đó của cơ thể) được trình bày riêng biệt. Giải phẫu hệ thống thích hợp với mục đích giúp người học hiểu được chức năng của từng hệ cơ quan. Các hệ cơ quan của cơ thễ có: hệ da, hệ xương, hệ khớp, hệ cơ, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu, hệ sinh dục và hệ nội tiết. các giác quan là một phần của hệ thần kinh. Giải phẫu vùng (regional anatomy) hay giải phẫu định khu (topographical anatomy) là nghiên cứu và mô tả giải phẫu của tất cả các cấu trúc (thuộc các hệ cơ quan khác nhau) trong một vùng, bao gồm cả lien quan của chúng với nhau. Cơ thể được chia thành những vùng lớn sau đây: ngực, bụng, đáy chậu và chậu hông, chi dưới, chi trên, lưng, đầu và cổ. mỗi vùng này lại được chia thành những vùng nhỏ hơn. Giải phẫu bề mặt (surface anatomy) là mô tả hình dáng bề mặt cơ thể người. đặc biệt là những liên quan của bề mặt cơ thể với những cấu trúc sâu hơn như các xương và các cơ. Mục đích chính cua giải phẫu bề mặt la giúp người học hình dung ra những cấu trúc nằm dưới da. VD: ở những người bị vết thương do dao đâm, thầy thuốc phải hình dung ra những cấu trúc bên dưới vết thương có thể bị tổn thương. 3. Vị trí của môn giải phẫu trong y học: Trong y học, giải phẫu học đóng một vai trò của một môn học cơ sở. Kiến thức giải phẫu học người là kiến thức nền tảng, giúp ta hiểu được hoạt động của cơ thể người (sinh lí học) Fernel noi rằng “ giải phẫu học cần cho sinh lí học giống như mon 4 địa lí cần cho môn lịch sử”. Giải phẫu học cũng là nền tảng kiến thức căn bản của tất cả các chuyên ngành lâm sàng. 5 4. Tư thế giải phẫu Tất cả các mô tả giải phẫu được trình bày trong mối liên quan với tư thế giải phẫu để đảm bảo rằng các mô tả đó được rõ rang và chính xác. Một người ở tư thế giải phẫu và một người đứng thẳng với: đầu, mắt và các ngón chân hướng ra trước, cac’ gót chân va các ngón chân áp sát nhau, và hai tay buông thong ở hai bên với các gan bàn tay hướng ra trước. 5. Các mặt phẳng giải phẫu Những mô tả giải phẫu đươc bốn loại mặt phẳng giải phẫu cắt qua cơ thể ở tư thế giải phẫu. Có nhiều mặt phẳng đứng dọc, đứng ngang và nằm ngang nhưng chỉ có một mặt phẳng đứng dọc giữa. Tác dụng chính của các mặt phẳng giải phẫu là để mô tả các mặt cắt và hình ảnh của cơ thể. Mặt phẳng đứng dọc giữa (medial sagital plane) là mặt phẳng thẳng đứng đi dọc qua trung tâm của cơ thể, chia cơ thể thành các nửa phải và trái. Các mặt phẳng đứng dọc (sagittal planes) là những mặt phẳng thẳng đứng đi qua cơ thể song song với mặt phẳng đứng dọc giữa. Các mặt phẳng đứng ngang (coronal/frontal planes) là những mặt phẳng thẳng đứng đi qua cơ thể vuông góc với mặt phẳng đứng dọc giữa chia cơ thể thành các phần trước và sau. Các mặt phẳng nằm nang (horizontal planes) là các mặt phẳng đi qua cơ thể vuông góc với các mặt phẳng đứng dọc giữa và đứng ngang. Một mặt phẳng nằm ngang chia cơ thể thành các phần trên và dưới. 6. Các từ chỉ mối quan hệ vị trí và so sánh Có nhiều tính từ được sử dụng để mô tả mối liên hệ về vị trí của các phần cơ thể ở tư thế giải phẫu bằng cách so sánh vị trí tương đối của hai cấu trúc với nhau, một cấu trúc đơn lẻ với bề mặt hoặc đường giữa, hay một cấu trúc với các cực co thể. Dưới đây là những từ thường được sử dụng. Trên (superior/cranial/cephalic) là nằm gần hơn về phía đầu; ví dụ nói “Tim nằm trên cơ hoành” nghĩa là nói Tim nằm gần đầu hơn cơ hoành, nói cái gì đó đi về phía đầu tức là nói đi lên phía trên. Dưới ( inferior/caudal) là nằm gần hơn về phía bàn chân ; ví dụ nói “ Dạ dày nằm dưới tim” nghĩa là nói dạ dày nằm gần bàn chân hơn so với tim. Trước (anterior) là ở gần mặt trước cơ thể hơn. Sau (posterior) là nằm gần mặt sau cơ thể hơn. Bên ( lateral) và giữa (medial). Bên là nằm xa mặt phẳng dọc giữa hơn, giữa thì ngược lại. Gần (proximal) và xa (distal). Gần nghĩa là nằm gần thân hoặc là điểm nguyên ủy (điểm gốc) của một mạch máu, thần kinh, chi hoặc cơ quan…hơn; xa có nghĩa ngược lại. Nông (superficial) là nằm gần bề mặt hơn và sâu (deep) là nằm xa bề mặt hơn. Bên trong ( internal) là ở gần hơn về phía trung tâm của một cơ quan hay khoang rỗng. Bên ngoài (external) thì ngược lại. 6 BÀI 1: ĐẦU - MẶT - CỔ Đầu và mặt có các cơ bám vào da và ở quanh các hốc tự nhiên. Cơ được chia thành các nhóm. 1. Nhóm cơ vùng đầu: Gồm các cơ rất mỏng: - Cơ chẩm chán: hai đầu là cơ, còn giữa là cân. Cơ bám vào xương chán ở trước xương chẩm ở sau, tạo thành nếp nhăn ở trán. - Hai bên thái dương có hai cơ thái dương. 2. Nhóm cơ vùng mặt: Có 4 nhóm cơ quanh các hốc tự nhiên để biểu lộ tình cảm. 2.1. Các cơ quanh hốc mắt: - Cơ mày: ở trong cùng lông mày để nhíu mày - Cơ vòng mi: vòng quanh mi mắt để nhắm mắt 2.2. Các cơ quanh mũi: - Cơ tháp: ở phần trên sống mũi - Cơ ngang mũi: vắt ngang mũi. - Cơ nở mũi làm cánh mũi rạng ra - Cơ lá làm cánh mũi hẹp lại 2.3. Các cơ quanh miệng: - Cơ vòng môi: mím môi - Cơ mút: bú, mút, thổi lửa, thổi sáo - Cơ nanh: thể hiện tính hung dữ - Cơ tiếp khớp, tiếp nhỏ: thể hiện vui cười. - Cơ kéo cánh mũi và môi trên ( nông và sâu) - Cơ cười: cười khầy, nhạo báng - Cơ vuông cằm làm căng da vùng cằm - Cơ chòm râu. 2.4. Các cơ quanh tai: Gồm các cơ tai trước tai trên và tai sau. Các cơ này ở động vật thì cử động tai. Ngoài 4 nhóm cơ nói trên thì còn có cơ bám da cổ chạy từ ngực, cổ đến xương hàm dưới. 2.5. Nhóm cơ nhai: Để cắn khít hàm răng tức là kéo xương hàm dưới lên và đưa sang 2 bên ( nghiền, nhai) - Cơ thái dương: từ xương thái dương đến xương hàm dưới - Cơ cắn: từ mỏm đến xương hàm dưới. - Cơ chân bướm trong và cơ chân bướm ngoài bám vào mặt trong và mặt ngoài chân bướm, đến bám vào xương hàm dưới. 2.6. Mạch máu thần kinh: Nuôi dưỡng vùng đầu mắt là do động mạch cảnh ngoài , thần kinh chi phối là thần kinh sọ não số VII và V 7 3. Cổ: Ở phía trước và hai bên, chia làm hai khu là khu tạng ở giữa , khu cơ ở xung quanh. 3.1. Khu tạng gồm: - Thực quản ở sát phía trước cột sống, ở sau khí quản. - Khí quản ở trước thực quản - Hai bên khí quản là thùy bên tuyến giáp trạng, bộ mạch thần kinh cổ (động mạch cảnh gốc, tĩnh mạch cảnh trong và dây thần kinh X). Ngoài ra giữa thực quản và khí quản còn có nhánh X quặt ngược. 3.2. Khu cơ ở xung quanh: chia làm hai lớp: - Lớp cơ sâu: gồm các cơ trước cột sống ở giữa và các cơ bậc thang ở trước , giữa và sau. ở hai bên là các cơ hô hấp. - Lớp cơ nông: gồm các cơ bao quanh tạng, chia làm hai khối. + Hai bên là cơ ức đòn chũm bám vào xương chũm, là cơ tùy hành của nhóm thần kinh cổ. + Phía trước cổ có các cơ: 2 cơ ức giáp, 2 cơ vai móng, 2 cơ ức đòn móng, 2 cơ giáp móng. Chú ý: 2 cơ ức đòn móng và 2 cơ ức giáp tạo thành hình trám khí quản là nơi mổ vào khí quản. Ngoài các cơ này ra ở vùng trên xương móng còn có các cơ: 2 cơ hám móng và 2 cơ cằm móng ở phía trước, 2 cơ nhị thân và 2 cơ trên móng ở hai bên phía sau. 3.3. Mạch máu, thần kinh: Nuôi dưỡng cổ là động mạch dưới đòn và động mạch cảnh ngoài, thần kinh đám rối cổ và dây thần kinh XI, XII. PHÚC MẠC VÀ PHÂN CHIA Ổ BỤNG 1. Phúc mạc: Phúc mạc (màng bụng) là một lớp màng mỏng nhẵn, phủ mặt trong của thành bụng rồi đi đến bao phủ các tạng và từ tạng này sang tạng khác vì vậy ta chia phúc mạc thành 3 phần là: lá thành, lá tạng, nếp phúc mạc. 1.1. Lá thành: Là phần phúc mạc mặt trong thành bụng. 1.2. Lá tạng: Là phần phúc mạc bao phủ ở mặt ngoài của các tạng (thanh mạc) 1.3. Nếp phúc mạc : Là phần phúc mạc đi từ thành bụng đến các tạng hoặc chạy từ tạng này sang tạng kia. Trong các nếp phúc mạc có nhiều mạch máu và thần kinh nếp phúc mạc được chia làm 3 loại là : mạc chằng, mạc treo và mạc nối. 1.3.1 Mạc chằng hay dây chằng: Là nếp phúc mạc chằng có tạng đặc vào thành bụng. 8 Ví dụ: mạc chằng vành, mạc chằng liềm, dây chằng tử cung, dây chằng hoành tỳ. 1.3.2 Mạc treo: Là nếp phúc mạc treo các tạng rỗng vào thành bụng. Mạc treo có nhiều mạch máu. Ví dụ: mạc treo đại tràng, mạc treo vòi trứng. 1.3.3 Mạc nối: Là nếp phúc mạc nối tạng này với tạng kia. Có 2 mạc nối quan trọng. - Mạc nối nhỏ: là hai là phúc mạc bọc gan đến mặt dưới gan từ hai bên chạy đến gặp nhau và dính lại, từ mặt dưới gan đến bờ cong bé dạ dày lại tách ra bọc dạ dày. Mạc nối nhỏ có cuống gan và vòng mạch bờ cong nhỏ. - Mạc nối lớn: Hai lá phúc mạc sau khi bọc mặt trước và mặt sau dạ dày, đến bờ cong lớn thì chập lại vòng xuống đến khớp mu giống bức rèm che phía trước rỗng và hồi trang rồi lật ngược lại bám vào mặt trước khối tá tụy rồi dính vào thành bụng sau. * HẬU CUNG MẠC NỐI: Là khoang ảo ở mặt sau dạ dày do các tạng và mạc nối tạo thành. Hậu cung mạc nối gồm các mặt : - Phía trước là dạ dày ở trên, mạc nối lớn ở dưới. - Phía sau là cơ hoành ở trên, khối tá tụy và thận trái ở dưới. - Phía trên là cơ hoành. - Phía dưới là mạc treo đại tràng ngang. - Phía trái là tỳ có mạc nối vị tỳ và mạc nối tụy tỳ. - Phía phải là khe thông từ hậu cung mạc nối với ngoài. Khe tạo bởi tĩnh mạch chủ dưới ở sau trước là bờ phải của mạc nối nhỏ trong đó có cuống gan. Trên là thùy Spiegen (spiegel) của gan. Khe đó có tên là Uyn-slô (Winslow). Ta có thể đặt ngón trỏ vào khe này để thăm khám cuống gan, ống mật chủ. Trong ngoại khoa thường vào hậu cung mạc nối để thăm mặt sau dạ dầy, và nối thông vị tràng qua mạc treo đại tràng ngang. 2. Phân chia ổ bụng: Lấy phúc mạc làm ranh giới, những tạng được phúc mạc bao bọc gần hết hoặc bao bọc hết gọi là tạng nằm trong ổ phúc mạc. Tạng được phúc mạc đi qua một mặt gọi là tạng ngoài phúc mạc. Dù tạng nằm trong phúc mạc hoặc ngoài phúc mạc đều gọi là trong ổ bụng. - Những tạng nằm ngoài phúc mạc (ngoài màng bụng). Lại chia làm 2 phần : sau phúc mạc, dưới phúc mạc. + Tạng nằm sau phúc mạc: Hai thận, niệu quản tuyến thượng thận, động mạch chủ bụng, tĩnh mạch chủ dưới. +Tạng nằm dưới phúc mạc: Gồm bàng quang, các tạng sinh dục và trực tràng. - Những tạng nằm trong phúc mạc: + Tầng trên đại tràng ngang gồm: Gan, dạ dày tỳ và hầu hết khối tá tụy. Tầng này được mạc chằng liềm chia thành ô dưới hoành phải và ô dưới hoành trái. 9 + Tầng dưới đại tràng ngang: Gồm hỗng tràng hồi tràng và một phần rất ít của khối tá tụy. Tầng này có rễ mạc treo tiểu tràng ngăn cách thành ô dưới bên phải đến manh tràng (hố chậu phải) và ổ dưới bên trái đến tận túi cùng Dougla. 10 BÀI 2: HỆ XƯƠNG Mục tiêu học tập: Trình bày được cầu tạo xự hình thành và phát triển của xương. Mô tả được những đặc điểm hình thể chính của xương. Gọi đúng được cơ các chi tiết trên phương diện thực hành giải phẫu. Nội dung: ĐẠI CƯƠNG 1. Thành phần của bộ xương: Bộ xương người có 206 xương chia thành: - Các xương trục: Xương sọ và xương mặt, cột sống, xương xườn và xương ức. - Các xương phụ: xương chi trên, xương chi dưới. Ngoài ra còn có xương vừng trong các gân cơ, và những xương bất thường khác. 2. Chức năng: Xương có 4 chức năng chính: - Nâng đỡ: Bộ xương tạo cho cơ thể một hình dáng và vị thế nhất định. - Bảo vệ: Các xương tạo thành hộp sọ che chở cho não, lồng ngục bảo vệ tim phổi, các mạc nối lớn, khung chậu chứa đựng bang quang, tử cung. - Vận động: Xương là nơi các cơ đến bám nên khi co sẽ tạo cử động quanh các khớp như là một đòn bẩy. - Tạo máu và trao đổi các chất: Tủy xương tạo ra các hồng cầu, bạch cầu hạt và tiểu cầu. Đồng thời nó cũng là nơi dự trữ mỡ, canxi, phot-pho… 3. Phân loại: Có thể sắp xếp loại xương theo hình thể và theo nguồn gốc cấu trúc của nó. 3.1 Theo hình thể: Có các loại sau: - Xương dài như xương cánh tay, xương đùi. - Xương ngắn như xương cổ tay, cổ chân… - Xương bất định hình, như xương thái dương, xương hàm trên… - Xương vừng như xương bánh chè 3.2 Theo nguồn gốc , cấu trúc xương: - Xương màng như xương hộp sọ và một số xương sọ mặt. - Xương sụn như xương chi, cột sống , xương ức , xương sườn , xương chậu… 4. Mô tả 4.1. Hình thể loài người: Mỗi xương có một hình thể ngoài riêng biệt và có những chỗ lồi lõm được chia làm 2 loại: 11
This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.