Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam

pdf
Số trang Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam 18 Cỡ tệp Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam 749 KB Lượt tải Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam 0 Lượt đọc Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam 23
Đánh giá Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam
4.1 ( 4 lượt)
Nhấn vào bên dưới để tải tài liệu
Đang xem trước 10 trên tổng 18 trang, để tải xuống xem đầy đủ hãy nhấn vào bên trên
Chủ đề liên quan

Tài liệu tương tự

Nội dung

Nghiên Cứu & Trao Đổi Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam VŨ THỊ HỒNG Trường Cao đẳng nghề GTVT Đường thủy II N ghiên cứu dùng mẫu của 37 ngân hàng thương mại VN (Gồm NHTMCP, NHTMNN, NHLD) với phương pháp nghiên cứu định lượng trong giai đoạn 2006-2011. Qua phân tích thống kê, tương quan và hồi quy dữ liệu bảng không cân xứng với hiệu ứng Fixed Effect, nghiên cứu đã tìm thấy sự tác động của một số yếu tố đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại VN. Cụ thể là, “Tỷ lệ vốn chủ sở hữu”, “Tỷ lệ nợ xấu” và “Tỷ lệ lợi nhuận” có mối tương quan thuận; ngược lại, “Tỷ lệ cho vay trên huy động” có mối tương quan nghịch với khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại VN. Tuy nhiên, nghiên cứu này không tìm thấy ảnh hưởng của “Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng”, “Quy mô ngân hàng” đối với khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại VN. Từ khóa: Ngân hàng thương mại VN, khả năng thanh khoản, thanh khoản, chính sách quản lý. 1. Sự cần thiết nghiên cứu Cuộc khủng hoảng từ việc cho vay dưới chuẩn của Mỹ xảy ​​ra vào tháng 8 năm 2007 đã nhấn chìm toàn bộ nền kinh tế Mỹ cũng như hệ thống tài chính toàn cầu. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS 2004) chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân gốc rễ của cuộc khủng hoảng là vấn đề thanh khoản, đã phần lớn bị bỏ qua trong quá khứ. Cuộc khủng hoảng chỉ ra rằng những ngân hàng dựa nhiều vào thị trường tiền tệ ngắn hạn tài trợ cho các tài sản hoạt động của họ có xu hướng bị vấn đề thanh khoản rất lớn. Từ cuộc khủng hoảng trên, đa số các ngân hàng thương mại đã quan tâm đến vấn đề thanh khoản vì nó chính là vấn đề sống còn của các ngân hàng trong thời kỳ hiện 32 nay. Ở VN, hơn hai thập kỷ qua, kể từ khi hệ thống ngân hàng VN thực hiện quá trình cải cách các ngân hàng thương mại (NHTM) đã có bước phát triển mới cả về lượng và chất, nhưng vấn đề rủi ro thanh khoản dường như chưa được quan tâm đúng mức. Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà quản lý ngân hàng cần thực hiện là đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý cho ngân hàng. Ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt, hay nói cách khác là ngân hàng không gặp rủi ro thanh khoản khi luôn có được nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần. Điều này có nghĩa nếu ngân hàng không có đủ nguồn vốn cần thiết để đáp ứng mọi nhu cầu của thị trường sẽ có thể mất khả năng thanh toán, mất uy tín và dẫn PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP Số 23 (33) - Tháng 07-08/2015 đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống. Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề thanh khoản trong hệ thống ngân hàng là vô cùng cần thiết, nếu các ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt thì không những có thể giúp cho thị trường tài chính ổn định mà nền kinh tế đất nước sẽ vận hành tốt. Đặc biệt, trong điều kiện của VN hiện nay, những vấn đề về thanh khoản đang được quan tâm hàng đầu và thường được đưa ra từ đầu năm để trong năm đó có thể quản lý tốt. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại VN” để nghiên cứu. 2. Cơ sở lý thuyết 2.1. Những vấn đề cơ bản về thanh khoản ngân hàng a. Thanh khoản và rủi ro thanh Nghiên Cứu & Trao Đổi khoản Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cho rằng: “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn...” Theo Duttweiler (2009), có hai khía cạnh khác nhau về thanh khoản cần phải đặc biệt quan tâm, đó là thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo. Trong đó, thanh khoản tự nhiên nghĩa là các dòng lưu chuyển xuất phát từ tài sản hoặc nợ nhưng có thời gian đáo hạn theo luật định. Trong lĩnh vực ngân hàng, khi một giao dịch với khách hàng thường được tái tục, có thể với cùng số tiền hoặc với số tiền nhỏ hơn/lớn hơn thì nhìn chung nhóm khách hàng này thường hành động gần như theo cách có thể dự đoán được. Điều này không chỉ đúng với các tài sản mà còn đúng với các khoản nợ. Còn thanh khoản nhân tạo lại được tạo ra thông qua khả năng chuyển tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn. Ở đây có thể thấy hầu như lúc nào cũng có thể dễ dàng chuyển một chứng khoán cụ thể thành tiền mặt, đặc biệt nếu vẫn còn công ty nào muốn chuyển chứng khoán thành tiền mặt thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận các giao dịch. Từ trước đến nay đã có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro thanh khoản. Nhưng rủi ro thanh khoản có thể được hiểu là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó nó sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn. (Duttweiler, 2009) b. Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản Nhiều nghiên cứu đã tương đối thống nhất khi chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản có thể đến từ bên tài sản nợ hoặc tài sản có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản của NHTM (Valla và Escorbiac, 2006). Bên cạnh đó, theo Nguyễn Văn Tiến (2010), có ba nguyên nhân tiền đề khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản thường xuyên là: “Thứ nhất, ngân hàng huy động và đi vay vốn thời gian ngắn, sau đó cứ tuần hoàn chúng để cho vay thời gian dài hơn. Do đó nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp về kỳ hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ.” “Thứ hai, sự nhạy cảm của tài sản tài chính với thay đổi lãi suất. Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn. Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với lãi suất thấp đã thỏa thuận. Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là đến thanh khoản của ngân hàng.” “Thứ ba, ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo. Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xói mòn niềm tin của dân chúng vào ngân hàng.” c. Đo lường khả năng thanh khoản Nghiên cứu về tính thanh khoản rất quan trọng đối với thị trường tài chính và các ngân hàng, đặc biệt là từ sau khủng hoảng kinh tế 2008. Theo Aspachs (2005) và Nikolau (2009), tính thanh khoản không đơn giản phụ thuộc vào các yếu tố khách quan bên ngoài (chẳng hạn như thị trường hiệu quả, cơ sở hạ tầng, chi phí giao dịch thấp, số lượng lớn người mua và người bán, đặc tính minh bạch của tài sản giao dịch) mà điều quan trọng là nó ảnh hưởng bởi yếu tố bên trong, đặc biệt là các phản ứng của người tham gia thị trường khi đối mặt với sự không chắc chắn và thay đổi giá trị tài sản. Cho tới nay nghiên cứu của một số tác giả như Aspachs & cộng sự (2005), Rychtárik (2009), Praet và Herzberg (2008) đã tập trung vào 4 tỷ số thanh khoản như sau: L1 = Tài sản thanh khoản/ Tổng tài sản Tỷ số này cung cấp một thông tin chung về khả năng thanh khoản của ngân hàng. Tức là trong tổng tài sản của ngân hàng tỷ trọng tài sản thanh khoản là bao nhiêu. Tỷ số này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng rất tốt. L2 = Tài sản thanh khoản / (Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn) Tỷ số thanh khoản L2 sử dụng tài sản thanh khoản để đo lường khả năng thanh khoản là rất tốt. Tuy nhiên, tỷ lệ này là tập trung vào mức độ nhạy cảm của ngân hàng khi lựa chọn các loại kinh phí (bao gồm tiền gửi của các hộ gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức tài chính khác). Tỷ số này cũng giống L1, tức là tỷ số này cao cũng thể hiện thanh khoản của ngân hàng là tốt. L3 = Khoản cho vay / Tổng tài sản Tỷ số này cho biết có bao nhiêu Số 23 (33) - Tháng 07-08/2015 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP 33 Nghiên Cứu & Trao Đổi phần trăm khoản cho vay trên tổng tài sản ngân hàng. Do đó tỷ lệ này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng yếu. L4 = Khoản cho vay/ (Tiền gửi + Nguồn vốn ngắn hạn) Tỷ số này cũng giống L3, tức là nếu cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng yếu. Các tỷ số này tương ứng với nhiều nghiên cứu khác nhau sẽ sử dụng làm biến phụ thuộc để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại. d. Dự trữ thanh khoản Theo Duttweiler (2009), để duy trì khả năng thanh toán, một mặt ngân hàng thương mại phải đảm bảo toàn bộ giá trị tài sản có phải lớn hơn các khoản nợ ở mọi thời điểm. Nếu trong kinh doanh vốn cho vay không có khả năng thu hồi và lỗ trong nghiệp vụ chứng khoán sẽ làm cho giá trị tài sản có xuống thấp hơn tài sản nợ và như vậy sẽ dẫn đến ngân hàng mất khả năng thanh toán, có thể phải đóng cửa hoặc phải bán tài sản cho ngân hàng khác. Trong các nguồn dự trữ để đảm bảo khả năng thanh khoản cho các ngân hàng có hai nguồn quan trọng mà các nhà quản lý trong ngân hàng phải đặc biệt quan tâm, đó là: Nguồn dự trữ sơ cấp và nguồn dự trữ thứ cấp. (Duttweiler, 2009) Dự trữ sơ cấp là các khoản mục về ngân quỹ tiền mặt, tiền gửi ở Ngân hàng Trung ương, tiền gửi các ngân hàng khác. Các khoản dự trữ này được sử dụng để dự trữ theo quy định của Ngân hàng Trung ương và đáp ứng nhu cầu bất thường về tiền mặt cho khách hàng hoặc để thực hiện các khoản thanh toán cho ngân hàng khác trong việc thanh toán giữa các ngân hàng. 34 Dự trữ thứ cấp bao gồm các loại chứng khoán có khả năng chuyển thành tiền dễ dàng như: Trái phiếu kho bạc, giấy chấp nhận trả tiền của ngân hàng...Dự trữ thứ cấp được dùng để hỗ trợ cho dự trữ sơ cấp về các nhu cầu rút tiền, thanh toán giữa các ngân hàng và vay mượn của khách hàng đã được dự kiến trước. e. Các lý thuyết về đo lường thanh khoản và các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các NHTM. Các lý thuyết về đo lường thanh khoản: Trước đây, người ta thường sử dụng các tỷ lệ thanh khoản để đưa ra các biện pháp quản lý rủi ro thanh khoản tốt hơn. Tỷ lệ mà các nghiên cứu trước đây sử dụng bao gồm tỷ lệ tài sản thanh khoản/tổng tài sản (ví dụ như Aspachs & cộng sự (2005), Rychtárik (2009), Praet và Herzberg (2008); DemirgüçKunt & cộng sự năm 2003), Tỷ lệ tài sản thanh khoản/tiền gửi khách hàng (Aspachs & cộng sự năm 2005; Rychtárik năm 2009; Praet and Herzberg năm 2008), Tỷ lệ tài sản thanh khoản/Tổng huy động ngắn hạn (Indriani, 2004). Nếu các tỷ lệ thanh khoản này cao chứng tỏ ngân hàng hoạt động có hiệu quả và ít rủi ro hơn. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu sử dụng tỷ lệ vốn vay/tổng tài sản (ví dụ như Demirgüç-Kunt và Huizinga năm 1999; Athanasoglou & cộng sự, 2006.), tỷ lệ cho vay ròng với khách hàng/tài trợ ngắn hạn (ví dụ như Pasiouras và Kosmidou, 2007; Naceur và Kandil, 2009) để đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Nếu các tỷ số này cao có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP Số 23 (33) - Tháng 07-08/2015 năng thanh khoản: Từ lúc thanh khoản trở thành vấn đề đáng được quan tâm của các ngân hàng thương mại thì đã có rất nhiều lý luận, nhiều tác giả đề cập đến những yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, những nghiên cứu cho kết quả đáng tin cậy nhất đa số tập trung vào các nghiên cứu về ngân hàng ở châu Âu và Bắc Mỹ. Những nghiên cứu trên tập trung vào hai nhóm yếu tố chính có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại: Nhóm thứ nhất là những yếu tố nội tại của chính bản thân các ngân hàng đó như: lợi nhuận, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ cho vay trên huy động, quy mô ngân hàng, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng... Nhóm thứ hai đề cập đến các yếu tố vĩ mô như: tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát, lãi suất cho vay, lãi suất cơ bản của NHTW, lãi suất bình quân liên ngân hàng... Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào các yếu tố nội tại, chưa đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng. 2.2. Các nguyên tắc của Basel về quản lý thanh khoản trong ngân hàng Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một diễn đàn cho sự hợp tác thường xuyên về các vấn đề liên quan đến giám sát hoạt động ngân hàng. Mục tiêu của Ủy ban là hiểu rõ hơn về các vấn đề mấu chốt trong việc giám sát hoạt động ngân hàng và nâng cao chất lượng giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn cầu. Trong các công việc về giám Nghiên Cứu & Trao Đổi sát khả năng thanh khoản, Ủy ban Basel đã nỗ lực mở rộng cách hiểu về cách thức một ngân hàng quản lý khả năng thanh khoản của mình ở phạm vi toàn cầu trên cơ sở bù trừ các giao dịch trong nội bộ. Những tiến bộ gần đây về phương diện tài chính và công nghệ đã cung cấp cho các ngân hàng những phương pháp mới để cấp vốn cho các hoạt động của mình và quản lý khả năng thanh khoản. Vì vậy, Ủy ban Basel đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản nhằm đánh giá công tác quản lý thanh khoản trong ngân hàng như sau: (Ngân hàng thanh toán quốc tế, 2009) Nguyên tắc 1: Mỗi ngân hàng cần thống nhất về một chiến lược quản lý khả năng thanh khoản hàng ngày. Chiến lược này cần được truyền đạt trong toàn ngân hàng. Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị của một ngân hàng phải là cơ quan kiểm duyệt chiến lược và các chính sách cơ bản liên quan đến quản lý khả năng thanh khoản của ngân hàng. Hội đồng quản trị cũng cần đảm bảo là các cán bộ quản lý cao cấp của ngân hàng thực hiện những biện pháp cần thiết để theo dõi và kiểm soát rủi ro thanh khoản. Nguyên tắc 3: Mỗi ngân hàng cần có một cơ cấu quản lý để thực hiện có hiệu quả chiến lược về khả năng thanh khoản. Cơ cấu này cần bao gồm sự tham gia thường xuyên của các thành viên thuộc nhóm cán bộ quản lý cao cấp. Nguyên tắc 4: Một ngân hàng cần có hệ thống thông tin đầy đủ cho việc đo lường, theo dõi, kiểm soát và báo cáo rủi ro thanh khoản. Các báo cáo cần được cung cấp kịp thời cho hội đồng quản trị của ngân hàng, các cán bộ quản lý cao cấp và các cán bộ có thẩm quyền khác. Nguyên tắc 5: Mỗi ngân hàng cần xây dựng một quy trình cho việc theo dõi và đo lường liên tục các yêu cầu cấp vốn ròng. Nguyên tắc 6: Các ngân hàng cần phân tích khả năng thanh khoản sử dụng nhiều tình huống dạng “nếu thì”. Nguyên tắc 7: Các ngân hàng cần xem xét một cách thường xuyên những giả thiết được sử dụng trong việc quản lý khả năng thanh khoản để xác định xem giả thiết đó còn giá trị hay không. Nguyên tắc 8: Mỗi ngân hàng cần xem xét định kỳ các nỗ lực của mình trong việc xây dựng và duy trì quan hệ với những người nắm giữ tài sản nợ, để đa dạng hoá các tài sản nợ và đảm bảo khả năng bán được các tài sản có của mình. Nguyên tắc 9: Các ngân hàng cần có kế hoạch dự phòng bao gồm chiến lược xử lý các vấn đề về khả năng thanh khoản và quy trình xử lý sự suy giảm luồng tiền trong những tình huống khẩn cấp. Nguyên tắc 10: Mỗi ngân hàng cần có một hệ thống đo lường, theo dõi và kiểm soát khả năng thanh khoản đối với các ngoại tệ mạnh mà ngân hàng có hoạt động. Ngoài việc đánh giá tính thanh khoản chung cho tất cả các ngoại tệ và những chênh lệch (mismatch) có thể chấp nhận được kết hợp với các cam kết về nội tệ, các ngân hàng cũng cần phân tích riêng rẽ chiến lược của mình đối với từng đồng tiền. Nguyên tắc 11: Dựa trên những phân tích được thực hiện theo nguyên tắc 10, khi cần thiết các ngân hàng cần xác định và xem xét thường xuyên trong một khoảng thời gian nhất định các giới hạn về quy mô của sự chênh lệch dòng tiền đối với toàn bộ các ngoại tệ và với từng ngoại tệ riêng lẻ mà ngân hàng có hoạt động. Nguyên tắc 12: Mỗi ngân hàng cần có một hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp cho quy trình quản lý rủi ro về khả năng thanh khoản. Một thành phần cơ sở của hệ thống kiểm soát nội bộ là việc đánh giá và xem xét một cách độc lập tính hiệu quả của hệ thống và đảm bảo là việc kiểm soát nội bộ được tăng cường hoặc chỉnh sửa khi cần thiết. Kết quả của những đánh giá này cần được cung cấp cho các cơ quan giám sát. Nguyên tắc 13: Mỗi ngân hàng cần có một cơ chế đảm bảo một mức độ hợp lý về việc công khai thông tin về ngân hàng để đảm bảo uy tín của ngân hàng trong con mắt công chúng. Nguyên tắc 14: Các cơ quan giám sát cần thực hiện việc đánh giá các chiến lược, chính sách của ngân hàng có liên quan đến công tác quản lý khả năng thanh khoản một cách độc lập. Các cơ quan giám sát cần yêu cầu các ngân hàng phải có một hệ thống hiệu quả để đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro thanh khoản. Các cơ quan giám sát cũng cần được cung cấp các thông tin từ các ngân hàng một cách đầy đủ và kịp thời để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng và đảm bảo là ngân hàng có các kế hoạch dự phòng về khả năng thanh khoản đầy đủ. 2.3. Một số nghiên cứu trước đây Khởi đầu bằng nghiên cứu của Aspachs & cộng sự (2005). Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn toàn diện về những yếu tố quyết định chính sách thanh khoản của các ngân hàng ở Anh. Bên cạnh đó, nó còn đi sâu tìm hiểu về mối quan hệ giữa những chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách của Số 23 (33) - Tháng 07-08/2015 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP 35 Nghiên Cứu & Trao Đổi Ngân hàng Trung ương và chu kỳ kinh tế có tác động như thế nào đến một mức hỗ trợ thanh khoản (Liquydity Buffer). Chắc chắn rằng Ngân hàng Trung ương sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng để duy trì khả năng thanh khoản, họ có thể cung cấp một sự hỗ trợ vốn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị khủng hoảng thanh khoản với tư cách người cho vay cuối cùng (LOLR). Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập trên cơ sở hàng quý, trong giai đoạn 1985 - 2003. Tiếp đó, vào năm 2006, Valla và Escorbiac cũng đưa ra kết quả nghiên cứu của họ. Tuy nhiên, nghiên cứu này về bản chất cũng tập trung vào một số yếu tố nội tại và vĩ mô ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng ở Anh như nghiên cứu của các tác giả Aspachs & cộng sự (2005). Nghiên cứu này cho rằng các yếu tố quyết định thanh khoản ngân hàng cụ thể và yếu tố kinh tế vĩ mô của tính thanh khoản của các ngân hàng Anh. Họ giả định rằng tỷ lệ thanh khoản phụ thuộc vào các yếu tố sau: Xác suất có được sự hỗ trợ từ cho vay cuối cùng, tăng trưởng cho vay, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất ngắn hạn; và lợi nhuận ngân hàng có tương quan âm với khả năng thanh khoản. Ngược lại, quy mô ngân hàng có thể tương quan âm hoặc dương với khả năng thanh khoản Trái lại với nghiên cứu của Aspachs & cộng sự (2005), nghiên cứu của Lucchetta (2007) lại không đi sâu vào những hỗ trợ vốn từ ngân hàng trung ương hay những chính sách kinh tế vĩ mô mà nó quan tâm đến mối quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường liên ngân hàng. 36 Nghiên cứu này đề cập đến quá trình cho vay liên ngân hàng để đáp ứng với những thay đổi về lãi suất. Qua đó, cung cấp những bằng chứng cho thấy lãi suất bình quân liên ngân hàng có ảnh hưởng đến những rủi ro và khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Hầu như ở tất cả các nước châu Âu, lãi suất liên ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến tính thanh khoản của các ngân hàng đang tồn tại và quyết định cho vay của một ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng. Ở nghiên cứu này, tính thanh khoản bị ảnh hưởng bởi: Hành vi của ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất cơ bản của chính phủ, các khoản vay trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ xấu, quy mô ngân hàng. Trong đó, khả năng thanh khoản được đo bởi tỷ lệ giữa khoản cho vay trên tổng tài sản (Loans on Total Assets - LTA). Để phục vụ cho nghiên cứu này, Lucchetta sử dụng dữ liệu bảng trong giai đoạn từ năm 1998 đến 2004. Các dữ liệu có trong bảng cân đối và báo cáo thu nhập của 5.066 ngân hàng ở châu Âu từ cơ sở dữ liệu BankScope, các mức lãi suất được lấy từ Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) trên cơ sở thống kê số liệu. Đặc biệt, năm 2011, Bonfim và Kim đã đưa ra kết quả nghiên cứu của mình nhưng khác với các nghiên cứu trước là tập trung vào các ngân hàng ở châu Âu và Bắc Mỹ. Đồng thời tác giả cũng chủ động chia thời kỳ nghiên cứu thành hai giai đoạn trước khủng khoảng và trong khủng hoảng để thấy rõ được tầm ảnh hưởng của các yếu tố nội tại cũng như vĩ mô ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng này. PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP Số 23 (33) - Tháng 07-08/2015 Nghiên cứu này cho rằng để đảm bảo khả năng quản lý rủi ro thanh khoản tốt nhất đa số các ngân hàng thường bỏ qua yếu tố bên ngoài, mà không biết rằng đó là những yếu tố hỗ trợ quan trọng cho khả năng thanh khoản. Vì vậy, bên cạnh việc xác định những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, nghiên cứu này còn nhấn mạnh tầm quan trọng của các tổ chức tài chính trong việc giảm bớt rủi ro thanh khoản. Với ý nghĩa đó, nghiên cứu thu thập dữ liệu từ Bankscope giai đoạn từ năm 2002 - 2009, do đó bao gồm cả cuộc khủng hoảng và những năm trước khủng hoảng. Dữ liệu thu thập tập trung vào các ngân hàng châu Âu và Bắc Mỹ, chỉ chọn các ngân hàng thương mại và tập đoàn ngân hàng có báo cáo tài chính hợp nhất, không bao gồm các ngân hàng mà không có thông tin về tổng tài sản. Do đó, tác giả có được 2968 quan sát và gần một nửa số các quan sát giới thiệu các ngân hàng ở Canada, Pháp, Đức, Italy, Hà Lan, Liên bang Nga, Anh và Mỹ. Cũng trong năm 2011, nghiên cứu của Vodová được đưa ra nhưng tác giả chỉ tập trung vào một quốc gia duy nhất là Séc, chứ không quan tâm đến nhiều quốc gia như Bonfim và Kim. Mục đích của nghiên cứu này là qua đó xác định các yếu tố quyết định tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại ở Séc. Các dữ liệu bao gồm giai đoạn từ 2001 đến 2009. Các kết quả phân tích hồi quy dữ liệu cho thấy rằng có mối quan hệ đồng biến giữa thanh khoản ngân hàng và tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu và lãi suất cho vay trên thị trường giao dịch liên ngân hàng. Đồng thời, tác giả đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến của Nghiên Cứu & Trao Đổi tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh doanh và cuộc khủng hoảng tài chính với tính thanh khoản. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phát hiện ra mối quan hệ giữa quy mô của các ngân hàng và tính thanh khoản không rõ ràng lắm. Việc lựa chọn của các biến dựa trên các nghiên cứu trước đây có liên quan. Tác giả xem xét việc sử dụng các biến cụ thể có ý nghĩa như thế nào đối với nền kinh tế của Séc. Vì lý do này, tác giả loại trừ phân tích các biến như sự cố chính trị, tác động của cải cách kinh tế, chế độ tỷ giá hối đoái. Tác giả chỉ xem xét các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các ngân hàng tại Cộng hòa Séc. Các biến độc lập được đưa ra bao gồm 4 biến nội tại (Tỷ lệ vốn tự có, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng) và 8 biến vĩ mô (Biến giả về cuộc khủng hoảng tài chính (bằng 1 nếu là năm 2009, bằng 0 nếu là năm khác), tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất cho vay, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, lãi suất repo 2 tuần từ chính sách tiền tệ, tỷ lệ thất nghiệp). Tác giả đã đưa toàn bộ các biến trên vào 4 mô hình hồi quy phù hợp với biến phụ thuộc thể hiện khả năng thanh khoản là: L1 = Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản L2 = Tài sản thanh khoản/(Tiền gửi + Cho vay ngắn hạn) L3 = Cho vay/Tổng tài sản L4 = Cho vay/(Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn) Từ 4 mô hình hồi quy trên cho kết quả như sau: - Mô hình 1: Khả năng thanh khoản có mối quan hệ đồng biến với CAP, IRL, NPL; nghịch biến với FIC và INF với mức ý nghĩa 1% và độ phù hợp của mô hình rất cao 75.06% - Mô hình 2: Khả năng thanh khoản có mối quan hệ đồng biến với CAP, IRL, TOA; nghịch biến với INF với mức ý nghĩa 1% và độ phù hợp của mô hình thấp hơn mô hình 1, chỉ có 21.06% - Mô hình 3: Khả năng thanh khoản có mối quan hệ đồng biến với GDP; nghịch biến với CAP và NPL với mức ý nghĩa 1% và độ phù hợp của mô hình rất cao 84.89% - Mô hình 4: Khả năng thanh khoản có mối quan hệ đồng biến với TOA; nghịch biến với IRL, CAP và IRB với mức ý nghĩa 1% và độ phù hợp của mô hình rất cao 80.26% Như vậy, mô hình 3 và 4 có khả năng giải thích cao. Kết quả cho thấy ngân hàng nhỏ có khả năng thanh khoản cao hơn so với các ngân hàng lớn. Kết quả các mô hình cho phép đưa ra kết luận sau đây: Khả năng thanh khoản ngân hàng tăng với mức độ an toàn vốn cao hơn, lãi suất cho vay cao hơn, tỷ lệ nợ xấu cao hơn và lãi suất liên ngân hàng cao hơn. Ngược lại, cuộc khủng hoảng tài chính, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế (GDP) có tác động nghịch biến với tính thanh khoản ngân hàng. Mối quan hệ giữa quy mô của các ngân hàng và tính thanh khoản của nó là không rõ ràng. Tác giả cũng thấy rằng tỷ lệ thất nghiệp, lợi nhuận, và lãi suất từ chính sách tiền tệ không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng thương mại Séc. Bên cạnh các nghiên cứu tập trung ở châu Âu và Bắc Mỹ như trên, còn có một nghiên cứu ở VN của tác giả Đặng Quốc Phong (2012) về các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các NHTMCP VN. Nghiên cứu này chỉ phân tích trong giai đoạn 2007-2012 và đối với 37 ngân hàng thương mại cổ phần ở VN. Trong nghiên cứu này tác giả đã đi sâu tìm hiểu mối quan hệ giữa một số biến nội tại (Như quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ lợi nhuận, tỷ lệ nợ xấu …) và hai biến vĩ mô (Tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế) với khả năng thanh khoản của 37 ngân hàng thương mại cổ phần ở VN. Đồng thời nghiên cứu này sử dụng biến phụ thuộc để đo lường khả năng thanh khoản là Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản. Cũng tại VN, một công trình khác của nhóm sinh viên trường Đại học Kinh tế TP.HCM (2010) cũng nghiên cứu vấn đề định lượng cho thanh khoản nhưng chủ yếu quan tâm đến mối quan hệ của thanh khoản với lợi nhuận của ngân hàng và dự báo sự thay đổi của lượng tiền gửi trong tương lai nếu các yếu tố lãi suất tiền gửi, giá vàng, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế thay đổi. Với nghiên cứu này, các tác giả đã làm rõ được các lý thuyết giải thích rủi ro thanh khoản, một số thước đo thanh khoản đối với NHTM, các chính sách của NHNN trong việc quản lý thanh khoản. Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy thực trạng về tính thanh khoản của các NHTMVN dựa trên mô hình nghiên cứu. Cái mới của công trình nghiên cứu này là các tác giả đã sử dụng một thước đo mới để đo lường tính thanh khoản là tỷ lệ cho vay dài hạn trên tiết kiệm ngắn hạn. Thước đo thể hiện sự lựa chọn của ngân hàng về lợi nhuận và an toàn Số 23 (33) - Tháng 07-08/2015 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP 37 Nghiên Cứu & Trao Đổi thanh khoản. Sự thay đổi của tỷ lệ cho vay dài hạn trên tiết kiệm ngắn hạn còn phản ánh chiến lược quản trị tài sản thanh khoản của ngân hàng theo tính năng động của thị trường liên ngân hàng. Mô hình đã thể hiện các công cụ phái sinh của thị trường liên ngân hàng là một hỗ trợ vốn bên ngoài để ngân hàng đối phó với những cú sốc tiền gửi. Trên cơ sở toàn bộ các nghiên cứu trước làm nền tảng cho nghiên cứu này, cần thiết phải tóm tắt lại để có được cái nhìn sâu sắc nhất về toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại: Bảng 1 cho thấy có 7 nghiên cứu chính của một số tác giả ở các quốc gia khác nhau trên thế giới được sử dụng chủ yếu cho nghiên cứu này. Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu của các tác giả đều chú trọng đến một số yếu tố khác nhau nhưng đều ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Vì vậy, trong nghiên cứu này không thể xem xét được hết toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản như tất cả các nghiên cứu trước mà chỉ chú trọng vào một số yếu tố được xem là có khả năng giải thích cao nhất với khả năng thanh khoản. 3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 3.1. Mô tả mẫu nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng dữ liệu được thu thập từ các bản báo cáo tài chính hợp nhất hàng năm của các ngân hàng thương mại VN trong khoảng thời gian từ năm 2006 - 2011. Dữ liệu được lấy trên trang web của các công ty chứng khoán cũng như của chính các ngân hàng đó. Mẫu nghiên cứu bao gồm 37 ngân hàng với tổng cộng 185 quan sát cho dữ liệu bảng không cân xứng. Các báo cáo tài chính hợp nhất là cơ sở để xem xét hoạt động của các ngân hàng hiện đại. Lý do chính là ngày nay phần lớn các ngân hàng đều phát triển theo hướng tập đoàn đa ngành nghề, đa lĩnh vực nên các báo cáo tài chính riêng không thể phản ánh được tình hình tài chính cũng như Bảng 1: Tóm tắt các nghiên cứu trước về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng Các yếu tố Valla và Escorbiac (2006) Tỷ lệ vốn CSH Quy mô ngân hàng +/- Bunda và Desquylbet (2003) Vodová (2011) Bonfim và Kim (2009) + + - - +/- +/- Tỷ lệ nợ xấu - + Tỷ lệ lợi nhuận - - Hỗ trợ vốn từ NHTW - Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế - Tỷ lệ tăng trưởng cho vay - Lãi suất ngắn hạn - Lucchetta (2007) Indriani (2004) + + - + + + Lãi suất bình quân liên NH + + - Lãi suất cơ bản - - Tỷ lệ cho vay/Tổng tài sản +/- + Cho vay ròng/Tổng tài sản + - Tỷ lệ lạm phát + - - - - Lãi suất repo 2 tuần - Tỷ lệ thất nghiệp - Chênh lệch lãi suất cho vay và tiền gửi - + + Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) Biến giả khủng hoảng tài chính + +/- +/- Hoạt động liên ngân hàng Lãi suất cho vay Aspachs & cộng sự (2005) - - Nguồn: Tổng hợp của tác giả Chú thích: (+): Tác động cùng chiều. (-) : Tác động ngược chiều. (+/-): Tác động lúc thuận lúc nghịch. 0: Không có ý nghĩa giải thích. 38 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP Số 23 (33) - Tháng 07-08/2015 Nghiên Cứu & Trao Đổi tình hình kinh doanh thực sự của các ngân hàng này mà chỉ có báo cáo tài chính hợp nhất mới đáp ứng được các mục tiêu trên. 3.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp định lượng, sử dụng kỹ thuật hồi quy bảng để phân tích tác động của 6 yếu tố (Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên huy động và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng) đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại VN. Đồng thời, nghiên cứu chỉ sử dụng 1 mô hình hồi quy, mỗi mô hình chạy 2 hiệu ứng (Fixed Effect và Random Effect) với phương pháp bình phương bé nhất (OLS). Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng kiểm định Hausman-test để kiểm tra xem mô hình với hiệu ứng Fixed Effect hay Random Effect là phù hợp hơn trong nghiên cứu này. 3.3. Mô hình nghiên cứu a. Mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu được đưa ra như sau: LIQ it = β0 + β1CAPit + β2NPLit+ β3ROEit + β4SIZEit + β5LDRit + β6LLRit + ei Trong đó: - Biến phụ thuộc: LIQit: Khả năng thanh khoản của ngân hàng (i) tại thời điểm (t) - Biến độc lập: + CAPit: Tỷ lệ vốn tự có của ngân hàng (i) tại thời điểm (t) + NPLit: Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng (i) tại thời điểm (t) + ROEit: Tỷ lệ lợi nhuận của ngân hàng (i) tại thời điểm (t) + SIZEit: Quy mô ngân hàng của ngân hàng (i) tại thời điểm (t) + LDRit: Tỷ lệ cho vay trên huy Bảng 2: Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình hồi quy và cách đo lường STT Biến Ký hiệu Cách đo lường LIQ LIQ = Tài sản thanh khoản/Tổng huy động ngắn hạn Kỳ vọng dấu Biến phụ thuộc 1 Khả năng thanh khoản Biến độc lập 2 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu CAP Tổng vốn CSH / Tổng tài sản + 3 Tỷ lệ lợi nhuận ROE Lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu + 4 Quy mô ngân hang SIZE Logarit (Total Assets) + 5 Tỷ lệ cho vay trên huy động LDR Tổng cho vay/Tổng huy động ngắn hạn - 6 Tỷ lệ nợ xấu NPL Tổng nợ xấu / Tổng cho vay - 7 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng LLR Dự phòng rủi ro tín dụng/Tổng cho vay - Nguồn: Tổng hợp của tác giả động ngắn hạn của ngân hàng (i) tại thời điểm (t) + LLRit: Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng (i) tại thời điểm (t) b. Nhận định về các biến trong mô hình Theo Aspachs & cộng sự (2005), Rychtárik (2009), Praet và Herzberg (2008), Vodová (2011), các nghiên cứu này đã sử dụng 4 tỷ số (L1 = TS thanh khoản/Tổng tài sản, L2 = TS thanh khoản/Tổng vốn huy động ngắn hạn, L3 = Tổng cho vay/Tổng tài sản và L4 = Tổng cho vay/Tổng vốn huy động ngắn hạn) như là biến phụ thuộc để đo lường khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ sử dụng tỷ số L2, tức là Tài sản thanh khoản/Tổng vốn huy động ngắn hạn để đo lường khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại VN. Bởi vì chỉ có tỷ số này mới phản ánh một cách chính xác nhất tình trạng thanh khoản của các ngân hàng, nó cho thấy trong tổng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được trong ngắn hạn để cho vay thì những tài sản có khả năng thanh khoản cao nhất chiếm bao nhiêu phần trăm. Trong đó tài sản thanh khoản bao gồm tiền mặt và những tài sản khả nhượng. Theo Duttweiler, tiền mặt được định nghĩa là các khoản dự trữ tiền mặt có sẵn và tất cả các khoản tiền gửi đến hạn được ký gửi tại Ngân hàng Trung ương và các ngân hàng khác. Trên cơ sở các nghiên cứu trước, nghiên cứu này cũng sử dụng tiền mặt, chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán và những chứng khoán có thời gian đáo hạn dưới 1 năm là những Tài sản thanh khoản. Bên cạnh đó, tổng huy động ngắn hạn là tất cả những nguồn nợ nhưng được duy trì trong khoảng thời gian dưới 1 năm. Ở đây có thể kể đến các nguồn mà ngân hàng có thể huy động được trong ngắn hạn như: Nợ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, tiền gửi khách hàng … trong ngắn hạn. Trong đó, tiền gửi khách hàng thường chiếm một tỷ trọng lớn nhất. (Vodová, 2011) Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ số này đo lường bằng cách lấy Lợi nhuận sau thuế chia cho Tổng vốn chủ sở hữu, vì vậy nó phản ánh hiệu quả quản trị của Số 23 (33) - Tháng 07-08/2015 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP 39 Nghiên Cứu & Trao Đổi ngân hàng trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu. Đa số các nghiên cứu trước đều sử dụng tỷ lệ Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản để đánh giá khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Có nghiên cứu tìm ra tác động cùng chiều của tỷ lệ lợi nhuận với khả năng thanh khoản của các ngân hàng (Như nghiên cứu của Bonfim và Kim, năm 2011; Bunda và Desquylbet, 2008; Bryant, 1980; Diamond và Dybvig, năm 1983). Nhưng cũng có nghiên cứu tìm ra tác động ngược chiều của tỷ lệ lợi nhuận với khả năng thanh khoản (Như nghiên cứu của Aspachs & cộng sự, năm 2005; Rauch & cộng sự, năm 2009; Vodová, năm 2011; Lucchetta, 2007). Nghiên cứu này sử dụng tỷ số ROE vì một mặt muốn đánh giá khả năng sử dụng vốn chủ sở hữu, mặt khác muốn xem xét tác động của yếu tố này lên khả năng thanh khoản ngân hàng. Và nghiên cứu kỳ vọng tỷ lệ lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu sẽ có tác động cùng chiều với khả năng thanh khoản của ngân hàng. Quy mô ngân hàng (SIZE) Quy mô ngân hàng được đo lường bằng cách lấy logarit tự nhiên của tổng tài sản (SIZE). Nếu SIZE có mối tương quan dương với khả năng thanh khoản của ngân hàng chứng tỏ ngân hàng càng mở rộng quy mô thì khả năng thanh khoản càng tăng, mở ra cơ hội cho các ngân hàng có thể tiếp tục huy động nhiều nguồn vốn khác nhau nhằm nâng cao khả năng thanh khoản của mình. Ngược lại, trường hợp xuất hiện mối tương quan âm chứng tỏ nếu mở rộng quy mô thêm nữa có thể làm cho chi phí tăng cao, sự phát triển về trình độ quản lý, nguồn nhân lực không theo kịp sự phát triển của 40 quy mô khiến cho rủi ro của ngân hàng tăng cao, trong đó có rủi ro thanh khoản. Các nghiên cứu trước của các tác giả Aspachs & cộng sự (2003); Lucchetta (2007); Vodová (2011); Rauch & cộng sự (2009), Indriani (2004) đều cho nhận định không giống nhau về mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, với tình hình của VN hiện nay, nghiên cứu kỳ vọng sẽ tìm ra mối quan hệ đồng biến giữa quy mô ngân hàng và khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP) Tỷ lệ vốn chủ sở hữu được đo lường bằng vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản, tỷ số này thể hiện tình trạng đủ vốn và sự an toàn, lành mạnh về tài chính của một ngân hàng. Tỷ số này thấp chứng tỏ ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính cao, điều này chứa đựng rất nhiều rủi ro và có thể làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm khi chi phí vốn vay cao. Các nghiên cứu của các tác giả Bunda (2003); Vodová (2011); Bonfim và Kim (2009); Aspachs & cộng sự (2005); Repullo, 2003; Dewatripont và Tirole (1993); Gorton và Huang (2004); Thakor (1996), Indriani (2004) đều cho thấy kết quả không giống nhau về tỷ lệ vốn chủ sở hữu và khả năng thanh khoản của ngân hàng. Nghiên cứu này kỳ vọng rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu sẽ có mối tương quan dương với khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) Phòng Thống kê - Liên Hiệp Quốc cho rằng về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP Số 23 (33) - Tháng 07-08/2015 hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Như vậy, nợ xấu có ảnh hưởng không nhỏ tới các chủ nợ cũng như ngân hàng, khiến cho cả 2 đều có nguy cơ mất vốn. Vì vậy, các nghiên cứu trước của các tác giả Lucchetta (2007); Iqbal (2012); Vong và Chan (2009) đều cho thấy mối tương quan âm giữa tỷ lệ nợ xấu và khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu của Vodová (2011) cho rằng có mối quan hệ đồng biến giữa NPL và LIQ. Do đó, nghiên cứu này cũng kỳ vọng sẽ tìm ra mối tương quan âm giữa tỷ lệ nợ xấu và khả năng thanh khoản của các NHTMVN. Tỷ lệ cho vay trên huy động ngắn hạn (LDR) Tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn được đo lường bằng Tổng cho vay chia cho Tổng huy động ngắn hạn. Trong đó, nguồn vốn huy động ngắn hạn bao gồm tiền gửi khách hàng và tiền huy động được từ các tổ chức tín dụng khác hay trên thị trường tài chính, tỷ số này càng lớn chứng tỏ ngân hàng cho vay cao hơn nhiều so với nguồn vốn huy động được. Vì vậy, lúc ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản sẽ rất khó huy động được những nguồn vốn rẻ nếu cho vay quá nhiều, làm cho khả năng thanh khoản sẽ giảm đi trông thấy. Ngược lại, trong trường hợp tỷ số này thấp chứng tỏ ngân hàng cho vay ít hơn so với nguồn vốn huy động được hoặc có thể có các nguồn khác như vay trên thị trường liên ngân hàng, phát hành giấy tờ có giá,… thấp hơn so với các khoản huy động làm cho khả năng thanh khoản của ngân hàng tăng (Golin, 2001). Các nghiên cứu trước của nhiều tác giả Nghiên Cứu & Trao Đổi Bảng 3: Thống kê mô tả các biến trong mô hình BIẾN LIQ CAP LDR Giá trị trung bình 0,3930 0,1387 Giá trị trung vị 0,3730 0,1159 Giá trị lớn nhất 1,0338 Giá trị nhỏ nhất Độ lệch chuẩn 185 Số quan sát LLR SIZE NPL ROE 0,6643 0,0110 17,1775 0,0180 0,1314 0,6439 0,0090 17,0023 0,0162 0,1287 0,5057 1,6853 0,0580 19,9481 0,1140 0,4425 0,0811 0,0280 0,2013 0,0001 13,8744 0,00006 0,0099 0,1729 0,0892 0,2151 0,0098 1,2349 0,01495 0,0680 185 185 185 185 185 185 Nguồn: Truy xuất từ Eview 7.0 như Aspachs & cộng sự (2003); Bonfim và Kim (2011), Indriani (2004), Golin (2001) đều cho thấy mối tương quan âm giữa tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn với khả năng thanh khoản ngân hàng. Vì vậy, nghiên cứu này cũng kỳ vọng sẽ tìm ra mối tương quan âm giữa tỷ số này và khả năng thanh khoản ngân hàng. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tài chính quy mô nhỏ không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết vay. Đa số các nghiên cứu trước của các tác giả Lucchetta (2007); Sufian và Chong (2008); Vong và Chan (2009) đều cho thấy mối tương quan âm giữa tỷ lệ dự phòng dự phòng rủi ro tín dụng và khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Vì vậy, nghiên cứu này cũng kỳ vọng sẽ tìm ra mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng với khả năng thanh khoản ngân hàng. c. Giả thiết nghiên cứu Với mô hình nghiên cứu và các biến như trên, giả thiết nghiên cứu được đặt ra như sau: H1: Tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu và khả năng thanh khoản. H2: Tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ lợi nhuận và khả năng thanh khoản. H3: Tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa quy mô ngân hàng và khả năng thanh khoản. H4: Tồn tại mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ lệ nợ xấu và khả năng thanh khoản. H5: Tồn tại mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ lệ cho vay trên huy động và khả năng thanh khoản. H6: Tồn tại mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và khả năng thanh khoản. 4. Kết quả hồi quy và thảo luận 4.1. Thống kê mô tả biến Bộ dữ liệu dùng để chạy mô hình là dữ liệu bảng có cấu trúc không cân xứng bao gồm 185 quan sát đã được chọn lọc lại cho phù hợp với yêu cầu của mô hình hồi quy. Chúng ta cần xem xét mối tương quan giữa các biến độc lập (CAP, LDR, LLR, ROE, SIZE, NPL) và biến phụ thuộc LIQ để đưa vào mô hình hồi quy cho phù hợp. Bảng 4: Kết quả hồi quy Mô hình 1 (Fixed Effect) Mô hình 2 (Random Effect) 0,6970 (1,791)* 1,1408 (5,1601)*** Vốn CSH/Tài sản (CAP) 0,7414 (7,0453)*** 0,8125 (8,3607)*** Tổng cho vay/Tổng huy động (LDR) -0,4438 (-4,3286)*** -0,4263 (-5,2039)*** Dự phòng RRTD/Tổng cho vay (LLR) -1,8391 (-1,0054) -0,0758 (-0,0636) LN(TTS) (SIZE) -0,0093 (-0,4091) -0,0394 (-3,0436)*** Lợi nhuận sau thuế/Vốn CSH (ROE) 0,2496 (2,0121)** 0,4761 (4,3535)*** 1,9793 (2,7865)*** 2,1098 (2,2637)** R-Squared 0,5733 0,4315 Adjusted R-Squared 0,4269 0,4124 F-Stat. 3,9166 22,5216 Durbin-Watson 2,202 1,9367 VIF 1,7449 1,7018 185 185 BIẾN PHỤ THUỘC Constant Nợ xấu/Tổng cho vay (NPL) Số quan sát (Observations) Nguồn: Tổng hợp của tác giả. (Các hệ số hồi quy được kiểm định bằng t-test, Ký hiệu *, **, *** chỉ ra các hệ số hồi quy lần lượt có ý nghĩa thống kê tại các mức ý nghĩa 10%, 5%, 1%.) Số 23 (33) - Tháng 07-08/2015 PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP 41
This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.